Nguyễn Minh Cần
Quốc
hội Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (nói đúng hơn là Bộ chính trị đảng cầm
quyền) tổ chức lấy ý kiến của dân cho “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992”. Họ thơn
thớt nói nhiều điều giả dối mà không hề ngượng miệng làm những người chính trực
nghe ngứa cả lỗ tai: “Đây là một trong những hoạt
động nhằm hiện thực hóa quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân. Nó tương đương
với một cuộc Trưng cầu dân ý trong việc xây dựng Hiến pháp lần này. Nói một
cách khác, nó là một Hội nghị Diên Hồng của dân tộc ta trong thời đại mới, đáp
ứng tốt yêu cầu xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc!”
Chẳng phải ngẫu nhiên
mà người ta dùng những lời lẽ “hoa mỹ”, “hoành tráng”, “đao
to búa lớn” như
vậy! Có ý đồ cả đấy, các bạn ạ!
Nhiều
tổ chức dân chủ đã tuyên bố tẩy chay cái trò bịp bợm muôn thuở của nhúm mười
bốn người đang độc tôn thống trị 90 triệu dân ta. Không ít người khinh bỉ huỵch
toẹt gọi đó là “trò khỉ”, và kêu gọi mọi người chớ chơi “trò
khỉ”.
Cũng có nhiều người nêu ý kiến, thảo luận về “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992”.
Đáng chú ý là 16 vị trước đây đã từng có quyền cao, chức trọng trong bộ máy cầm
quyền nay đại diện cho 72 nhân sĩ, trí thức đã đến trụ sở “quốc
hội” trang
trọng dâng... kiến nghị bảy điều (nghe như “thất trảm
sớ” của
cụ Chu Văn An dâng lên vua Trần Dụ Tông năm xưa), kèm theo một bản dự thảo hiến
pháp của “nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa”. “Quốc hội” tổ
chức lễ tiếp nhận kiến nghị rất long trọng. Các cơ quan truyền thông của đảng
được lệnh quay phim, chụp ảnh, truyền hình, truyền thanh rầm rộ. Chủ và khách
đều hoan hỉ, hể hả...
Thế
mà có một nhà chính luận trẻ tuổi, thông tuệ là cô Huỳnh Thị Thục Vy đã viết
một bài khá sắc sảo (bài “Tính chính danh của Hiến
Pháp”), trong đó có một câu đáng để cho các vị nhân sĩ, trí thức
và mọi người suy ngẫm: “... Quả vậy, những đóng góp
cho việc sửa đổi Hiến pháp của một số trí thức Việt Nam hiện nay vô hình chung
mang lại tính chính danh nguy hiểm cho sự cai trị độc đoán của chế độ; cũng như
cung cấp cho cái gọi là "Hiến pháp" của họ một thẩm quyền giả tạo, để
họ có thể tiếp tục cai trị chuyên quyền và đàn áp đối lập.”
Nhưng,
hôm nay, người viết bài này không bàn đến chuyện có nên hay không nên góp ý
kiến cho “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp
1992”.
Vì, theo thiển ý, cũng có thể có nhiều vị có thiện ý nghĩ rằng, việc góp ý kiến
này là một dịp nhắc cho đảng cầm quyền nhớ rằng càng ngày càng có nhiều nhân
sĩ, trí thức và công chúng thuộc đủ mọi thành phần xã hội, tôn giáo, kể cả đảng
viên của họ, không đồng tình với đảng, không tán thành “Dự
thảo sửa đổi Hiến pháp 1992” của đảng. Cũng không loại trừ chuyện có
nhiều vị muốn nhân việc góp ý kiến này để “đánh bóng”tên tuổi của họ trước
bàn dân thiên hạ, hoặc muốn lưu lại “vang bóng
một thời” (xin
phép mượn chữ của cụ Nguyễn Tuân) cho hậu thế. Và cũng rất có thể có người muốn
dùng hình thức góp ý để bộc lộ tinh thần chống đảng cầm quyền, chống chế độ độc
tài, toàn trị... Nghĩa là động cơ mỗi người góp ý kiến có thể rất khác nhau.
Nhưng
có một điều chắc chắn là, ngày nay, hầu như không còn mấy ai ngây thơ nghĩ rằng
cái đảng cầm quyền này thực tâm mong muốn nước ta, dân ta có một bản hiến pháp
thật sự dân chủ, thật sự tiến bộ, xứng đáng là một “khế
ước xã hội” được
sự đồng thuận của toàn dân. Các vị nhân sĩ, trí thức góp “kiến nghị bảy điều”
đã từng gánh vác trọng trách trong guồng máy cầm quyền lại càng không thể ngây
thơ!
Mọi
người đều nhớ: trước khi đưa ra việc lấy ý kiến dân về “Dự thảo sửa đổi Hiến
pháp 1992” thì các ông đầu nậu trong Bộ chính trị từ Tổng bí thư, Chủ tịch
nước, Thủ tướng... đã lớn tiếng“chặn họng” nhân dân: “bỏ
điều 4 là tự sát”, “chỉ có quyền sở hữu toàn dân, chứ không thể có quyền sở hữu
tư nhân về đất đai”, “không thể có báo chí tư nhân”, “không thể có đảng phái
đối lập”, “không thể có đa nguyên, đa đảng”, “quân đội và công an là của Đảng,
không thể khác được”, “kinh tế quốc doanh là chủ đạo”, “nhà nước ta không tam
quyền phân lập”...
Do đó, người dân bình thường có chút suy nghĩ cũng có thể nhận rõ cái việc sửa
đổi hiến pháp này chỉ là một trò bịp bợm không hơn không kém, huống chi là các
vị nhân sĩ, trí thức học hàm, học vị đầy mình đã từng sống và làm việc lâu năm
trong guồng máy cầm quyền! Ai mà không thấy rằng, muốn sửa đổi cái bản hiến
pháp lạc hậu hiện nay, hoàn toàn không phù hợp tinh thần thời đại mà không cho
đụng đến những vấn đề gốc rễ đó thì sửa đổi cái... quái gì? Bản hiến pháp mới
sẽ chẳng khác gì bản cũ!
Vậy
thì đảng cầm quyền nhắm tới cái mục đích gì đây? Theo thiển ý của chúng tôi,
mục đích chính của đảng cầm quyền là qua việc lấy ý kiến dân để sửa đổi hiến
pháp lần này là để khoác lên chế độ độc tài toàn trị hiện hữu, khoác lên đảng
cầm quyền một cái áo choàng “chính thống” (légitimité), “chính
danh” nào
đó bằng cách tuyên bố cuộc lấy ý kiến của dân vừa qua đã hoàn toàn thắng lợi, “nó
tương đương với một cuộc Trưng cầu dân ý” (chữ viết hoa trong
nguyên bản)! Nghĩa là họ sẽ “mập mờ đánh lận con đen” là đảng cầm quyền đã “hiện
thực hóa quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân” trong “một
cuộc Trưng cầu dân ý” (!), trong “một Đại hội Diên Hồng của dân
tộc ta trong thời đại mới” (!) và toàn dân đã chuẩn thuận, đã phúc
quyết bản hiến pháp sửa đổi, như vậy là toàn dân đã cho phép cái gọi là Đảng
cộng sản Việt Nam tiếp tục trường kỳ thống trị nhân dân Việt Nam “muôn
năm”!
Đấy, thâm ý của băng đảng cầm quyền là như vậy!
Chắc
nhiều người đều biết rằng, các bản hiến pháp đã có ở nước ta đều có một điểm vi
hiến giống nhau là chúng không hề được “đưa toàn
dân phúc quyết” như
điểm c Điều 70 Hiến pháp 1946 đã quy định. Cuộc vận động góp ý cho “Dự
thảo sửa đổi Hiến pháp 1992” lần này chính là một trò bịp bợm lập lờ
về cái sự “toàn dân phúc quyết” vừa nói trên!
Vì
sao đảng cầm quyền phải viện đến kế sách đó vào lúc này? Vì cái gọi là “Đảng
cộng sản Việt Nam” vốn không có tính “cộng sản”, ngày nay thậm chí
cũng không còn tính chất một đảng chính trị, mà thực tế nó đã biến thành một
băng đảng mafia mất hết uy tín trước nhân dân. Ngay cả các đảng viên trung thực
cũng không còn tin đám chóp bu của đảng nữa. Nhiều nhân vật chính trong băng
đảng cầm quyền ngày nay đã hiện nguyên hình trước mắt đại chúng, kể cả đại
chúng đảng viên, là những tội đồ bán nước, những tay sai ngoại bang, những quan
tham côn đồ, những cường hào ác bá cướp ngày trắng trợn... Băng đảng này đang
trên đà tan rã vì sự đấu đá nội bộ để tranh quyền, tranh lợi, vì nạn tham nhũng
tràn lan, vì những khủng hoảng trầm trọng bên trong tổ chức, và đặc biệt vì sự
tấn công mạnh mẽ của dư luận xã hội trong cả nước bóc trần bộ mặt thật của
chúng... Để bám được quyền lực thì về mặt đối ngoại, băng đảng này đang hèn hạ
dựa dẫm và khuất phục “thiên triều” Trung cộng bất chấp
sự phản đối của nhân dân yêu nước, về mặt đối nội, chúng điên cuồng đàn áp khốc
liệt và dã man mọi phong trào yêu nước, mọi biểu hiện đối lập, mọi cuộc vận
động đòi tự do, dân chủ và nhân quyền, đồng thời trắng trợn vơ vét, cướp đoạt
đất đai, nhà cửa, tài sản của người dân nhằm chuẩn bị cho những ngày tàn của
chúng... Tất cả những hành động này chỉ tăng thêm lòng căm ghét và uất hận của
đại chúng, càng tích lũy thêm những thùng thuốc súng sẵn sàng nổ tung khi gặp
mồi lửa. Chính vì thế, đám đầu đảng đang ra sức bày ra những trò bịp bợm để lừa
gạt nhân dân. Một trong những trò đó chính là việc tổ chức góp ý dân để sửa đổi
hiến pháp, qua đó băng đảng cầm quyền có thể làm cho giới trí thức xao lãng
những vấn đề thực tế trước mắt, đồng thời, như đã trình bày ở trên, hòng vớt
vát một chút “tính chính thống” nào đó cho việc tiếp
tục bám chặt quyền thống trị nhân dân.
***
Khi
bàn đến tính chính thống của chế độ, chúng tôi thấy cần lưu ý bạn đọc đến sự
kiện lịch sử này: Đúng là bản Hiến pháp 1946 đã được Quốc hội thông qua ngày 9
tháng 11 năm 1946, nhưng nó không hề được Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ra sắc lệnh
ban bố để được thi hành. Như vậy, thực tế là Hiến pháp 1946 đã không được khai
sinh (nói theo văn phong hiện đại của báo chí trong nước: nó không được đưa vào
cuộc sống), mà bị “bỏ xó”, có thể nói là nó đã
bị khai tử! Vì thế, Hiến pháp 1946 không hợp hiến, không có giá trị về mặt pháp
lý. Đó là một sự thật không thể chối cãi!
Cố
nhiên, đảng cầm quyền không thể thừa nhận thực tế đó, dù nó là một sự thật. Vì
nếu thừa nhận thì logic khách quan sẽ dẫn đến kết luận này: vì dựa trên Hiến
pháp 1946 không có giá trị về mặt pháp lý mà sửa đổi thì những “hiến
pháp” 1959,
1980, 1992, và rồi đây cả 2013... nữa cũng đều không có giá trị về mặt pháp lý.
Từ đó, logic sẽ dẫn đến một kết luận vô cùng nghiêm trọng nữa là: các chế độ
Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sinh ra từ
những “hiến pháp” vừa nói đó đều không có tính chính
thống, không có chính danh! Do đó, các thể chế, các tổ chức chính quyền, các tổ
chức chính trị, kể cả Đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1945 về sau đều là phi
pháp, đều là những tổ chức tiếm quyền của dân chúng! Tiếc rằng, ở nước ta không
có một Tòa án bảo hiến độc lập và thực sự có uy quyên để phán xét điều này!
Cũng có thể có người phản bác lại, bảo
rằng: Trong Hiến pháp 1946 không có điều khoản nào quy định là Chủ tịch nước
phải ra sắc lệnh ban bố hiến pháp cả. Đúng là trong Hiến pháp 1946, người ta đã
lờ đi, không ghi điều khoản riêng quy định việc ban bố hiến pháp thật. Ở điểm đ
Điều 49 Hiến pháp 1946 chỉ nói “các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị” thì
phải được Chủ tịch nước ban bố mới có giá trị pháp lý để toàn dân thi hành.
Nhưng,
ta hãy bình tĩnh mà xét, về mặt pháp lý, hiến pháp cũng là một đạo luật, đạo
luật cao nhất, bao trùm nhất, người ta gọi nó là “đạo luật cơ
bản”, “đạo luật của tất cả các luật”. Lẽ nào một “đạo
luật” như
thế lại không đòi hỏi một sắc lệnh do Chủ tịch nước ban bố hay sao? Không có
sắc lệnh của Chủ tịch nước ban bố hiến pháp, thì hiến pháp cũng như bất kỳ đạo
luật nào khác cũng đều không có tính pháp lý!
Phải
nói thẳng rằng, trong chuyện này, ta thấy rõ một thủ đoạn rất thâm của ông Hồ
Chí Minh: là ông cố tình không ghi điều này trong hiến pháp để tạo nên một sự
mập mờ cho phép ông và phe cánh ông “tùy cơ ứng
biến” sử
dụng Hiến pháp 1946 như thế nào tùy theo ý muốn của họ. Ông Hồ Chí Minh và
những người cộng sản cũng đã đề phòng trước mọi tình huống phức tạp nên trong
Hiến pháp 1946, họ cũng cố tình lờ đi không lập ra Tòa án bảo hiến (còn gọi là
Tòa án hiến pháp). Thực ra, việc Chủ tịch nước ra sắc lệnh ban bố hiến pháp và
việc lập Tòa án bảo hiến là những kiến thức rất sơ đẳng về hiến pháp không thể
nào họ không biết! Họ biết, nhưng cố tình lờ đi! Đây là ý đồ, là âm mưu có tính
toán của họ!
Cho
nên, sau này khi nảy sinh những vấn đề rắc rối về pháp lý, nhất là về hiến
pháp, không có một cơ quan nào như Tòa án bảo hiến đứng ra phán xét cả. Thế là
bên hành pháp (chủ tịch nước và chính phủ) tha hồ “nói xuôi
cũng được, nói ngược cũng xong”, cứ thế suốt đời “cả
vú lấp miệng em” để
vi phạm hiến pháp. Phải nói thẳng thắn đó là hành vi của những tên bợm “cáo
già” làm
chính trị, chứ không phải của người làm chính trị trung thực!
Xin
mọi người đừng quên rằng: trong ban dự thảo hiến pháp, những người cộng sản
luôn luôn chiếm hầu hết các ghế. Ban dự thảo đầu tiên gồm 7 người, được thành
lập theo sắc lệnh 34SL ngày 29.9.1945, thì chỉ có ông Vĩnh Thụy, tức là vua Bảo
Đại, là người duy nhất không cộng sản (thực ra tên ông được ghi vào chỉ để “làm
vì” tượng
trưng thôi), còn lại đều là Việt minh-cộng sản, trong số đó người chủ chốt là
ông Hồ Chí Minh và ông Đặng Xuân Khu (tên của Tổng bí thư Trường Chinh). Như
vậy, họ muốn viết hiến pháp thế nào mà chẳng được! Ban dự thảo được Quốc hội
bầu ra sau đó có 11 người, thì tuyệt đại đa số cũng vẫn là cộng sản-Việt minh!
Hồi
năm 1946, ông Hồ Chí Minh và những người cộng sản biết rõ thực lực và vị thế
của họ còn yếu, nên khi làm hiến pháp họ rất chú ý mặt đối ngoại. Nghĩa là
trong hiến pháp họ phải giấu thật kín cái vẻ ngoài và cái thực chất “cộng
sản” của
chế độ, phải nói rõ về “quyền tư hữu tài sản của công
dân được bảo đảm”,
về “trường tư được mở tự do”, về “đoàn
kết mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mọi sắc tộc, mọi tôn giáo”, v.v... để dân chúng
Việt Nam và nước ngoài không sợ cộng sản, đồng thời cố trưng lên rất “hoành
tráng” các
quyền của công dân, như “tự do ngôn luận”, “tự do xuất
bản”, “tự do tổ chức và hội họp”, “tự do tín ngưỡng” và “tự
do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”... để gây được cảm
tình và sự ủng hộ của dân chúng. Hiến pháp vì thế có tính phô trương, huênh
hoang (déclaratif) nhiều hơn là thực tế: trong hiến pháp không hề có những quy
định chặt chẽ bảo đảm sự thi hành nghiêm chỉnh. Hơn nữa, những người làm hiến
pháp còn cố tạo sẵn những kẽ hở để sau này cơ quan hành pháp dễ dàng ra những
nghị định “dưới luật”nhằm vô hiệu hóa
những điều đã ghi trong hiến pháp.
Bây
giờ thì một số người nức nở hết lời khen ngợi Hiến pháp 1946, nào là nó dân
chủ, nào là nó tiến bộ, thậm chí có người còn “bốc” quá mạnh, bảo rằng nó
dân chủ nhất châu Á, vì chỉ nhìn cái vẻ ngoài của nó thôi, chứ thật ra Hiến
pháp 1946 có được thi hành một ngày nào trên nước ta đâu mà khen ngất như vậy!
Xin mọi người cứ đối chiếu các điều ghi trong Hiến pháp 1946 với thực tế lịch
sử nước ta thì rõ thôi! Hiến pháp 1946 “dân chủ”,
“tiến bộ” như
thế, viết những điều hay ho, tốt đẹp như thế mà các ông Hồ Chí Minh, Trường
Chinh – những người chủ chốt đã làm ra cái hiến pháp đó – đã tự cho phép mình
và đảng cầm quyền bắn giết trên một trăm nghìn người, tước đoạt ruộng đất nhà
cửa của hàng chục nghìn gia đình ở nông thôn trong cuộc cải cách ruộng đất;
tịch thu tài sản của hàng nghìn người trong các cuộc cải tạo công thương nghiệp
tư nhân; bắt bớ, giam cầm, đày đọa hàng trăm nhà trí thức, văn nghệ sĩ, giáo
sư... có tiếng trong vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm; cầm tù hàng trăm cán bộ kể cả
các tướng lĩnh, bộ trưởng, thứ trưởng... trong vụ án Xét lại-chống Đảng, v.v...
Còn hàng trăm, hàng nghìn điều vi phạm Hiến pháp 1946 nữa, không thể kể xiết!
Chính những người làm ra Hiến pháp 1946, lại không muốn ban bố hiến pháp, lại
không muốn lập ra một Tòa án bảo hiến độc lập để họ dễ bề“ngồi
xổm” lên nó, “chà đạp” nó, coi nó không khác
gì tờ giấy lộn, thì làm sao lại có thể ca tụng Hiến pháp 1946 là dân chủ, là
tiến bộ được?
Viết
đến đây, chúng tôi nghĩ rằng cần nói rõ quan niệm của những lãnh tụ cộng sản về
hiến pháp, nó khác hẳn với quan niệm thông thường về một hiến pháp dân chủ, về
một “khế ước xã hội”... mà chúng ta từng quen thuộc. Người
viết bài này hồi năm 1958 nhiều lần được nghe ông Trường Chinh giảng giải về
hiến pháp, nhân dịp sửa đổi hiến pháp năm 1959. Theo quan niệm cộng sản, hiến
pháp là đạo luật gốc để thể chế hóa chiến lược và sách lược của đảng cộng sản
trong từng giai đoạn cách mạng; nó phải phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của
đảng, phải bảo đảm vai trò lãnh đạo của đảng đối với đất nước và nhân dân. Để
soi sáng vấn đề này, ông Trường Chinh đưa ra những ví dụ, chẳng hạn, hồi năm
1946, khi làm cách mạng giải phóng dân tộc, trong hiến pháp ta nói “đoàn
kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo”, còn bây giờ (hồi đó
là năm 1958) khái niệm của đảng ta về “nhân dân” có khác, nhân dân chỉ
là những giai cấp cách mạng thôi, địa chủ, tư sản, phú nông không thuộc phạm
trù nhân dân; bây giờ trong hiến pháp ta phải nhấn mạnh liên minh công nông và nêu
rõ vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân. Hồi năm 1946, hiến pháp ghi rõ các
quyền cơ bản của công dân, như quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh,
quyền khiếu nại tố cáo, nhưng bây giờ không thể ghi như vậy được vì ta đang làm
cách mạng xã hội chủ nghĩa, ta phải dứt khoát nói kinh tế quốc doanh giữ vai
trò lãnh đạo trong nền kinh tế và nó được nhà nước ưu tiên phát triển... Hồi
năm 1946, ta không nói, nhưng ngày nay ta phải nói rõ ta đứng trong phe xã hội
chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô, v.v... Câu nói được ông Trường Chinh nhắc đi
nhắc lại nhiều lần là “Đảng sửa đổi hiến pháp để phù
hợp với chiến lược và sách lược của đảng trong từng giai đoạn”... Chính vì thế đến
năm 1980, các lãnh tụ cộng sản lại sửa đổi hiến pháp, tuyên bố “đi
theo con đường Cách mạng tháng Mười Nga”, công nhiên ghi Điều 4 vào hiến pháp
nói về vai trò độc quyền lãnh đạo của Đảng cộng sản (điều này cóp gần như
nguyên văn ở Điều 6 Hiến pháp Liên Xô năm 1977), công khai nói đến “nắm
vững chuyên chính vô sản” và ngang nhiên ghi vào hiến pháp Điều
17 nhằm xóa bỏ quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất thay bằng cái gọi là “sở
hữu toàn dân”.
Câu này trong lời nói đầu của hiến pháp 1980 làm nổi bật cái quan niệm của
những người cộng sản về hiến pháp: "Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần có một bản Hiến pháp thể chế hóa đường
lối của Đảng cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới. Đó là Hiến pháp của thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước...”
Với
một quan niệm về hiến pháp như vậy của đảng cầm quyền thì dân ta không mong gì
có được một hiến pháp dân chủ, giống như một “khế ước xã
hội” trong
đó các tầng lớp nhân dân thỏa thuận với nhau một cách dứt khoát và lâu dài về
những quyền lợi của công dân, về việc bảo đảm quyền làm chủ và quyền bình đẳng
của công dân thể hiện trong việc bảo đảm quyền được tự do bầu cử, ứng cử, quyền
được quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước qua những cuộc trưng cầu
dân ý; thỏa thuận với nhau về những nguyên tắc cơ bản tổ chức hệ thống chính
trị, kinh tế và xã hội của đất nước, về vai trò chủ nhân của công dân trong các
hệ thống đó, cũng như trong các lực lượng vũ trang của đất nước; thỏa thuận với
nhau về việc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, không cho
phép một giai cấp nào, một tầng lớp nào, một đảng phái nào được đặc quyền đặc
lợi, được độc tôn nắm toàn bộ quyền bính trong nước; thỏa thuận với nhau về tam
quyền phân lập để có sự kiềm chế, kiểm tra và giám sát lẫn nhau giữa ba ngành
lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm bảo đảm sự hài hòa về quyền lực, bảo đảm
công bằng trong xã hội, và không cho phép sự độc tài, chuyên chế. Các lãnh tụ
cộng sản cho những điều này là quan niệm tư sản về hiến pháp nên họ ra sức bác
bỏ!
Với
cái quan niệm “sửa đổi hiến pháp để phù hợp
với chiến lược và sách lược của đảng trong từng giai đoạn” nên đảng cầm quyền cứ
thay đổi hiến pháp xoành xoạch như người ta thay áo! Có thể nói, nước Việt Nam
ta có lẽ là nước đoạt kỷ lục thế giới về nhịp độ thay đổi hiến pháp! Vì thế,
nước ta và dân ta không mong gì có được một hiến pháp tồn tại lâu dài, có được
một chế độ ổn định, trường cửu, để mọi công dân có thể sinh sống và làm việc vì
lợi ích chung của toàn xã hội cũng như của từng cá nhân.
***
Người viết nghĩ rằng: Nếu quả thật các
vị đứng đầu đảng cầm quyền thực tâm muốn nước ta, dân ta có một bản hiến pháp
thật sự dân chủ đáp ứng được tinh thần của thời đại, đáp ứng được nguyện vọng
của toàn dân và muốn xóa bỏ cái tình trạng lèm nhèm về tính hợp hiến, về giá
trị pháp lý của hiến pháp, cũng như tình trạng lèm nhèm về tính chính thống của
chế độ hiện hành thì chỉ cần quý vị làm một việc giản đơn thôi, là: tổ chức một
cuộc bầu cử hoàn toàn tự do và trung thực, có sự kiểm soát của quốc tế, cho
nhân dân được tự do bầu cử, ứng cử để bầu lên một quốc hội lập hiến, và quốc
hội này sẽ dự thảo và thông qua hiến pháp mới; hiến pháp mới sẽ được đưa ra
trưng cầu dân ý một cách thật tự do và đàng hoàng để toàn dân phúc quyết thì
chắc chắn hiến pháp đó sẽ là hiến pháp tốt nhất có thể tồn tại lâu dài với thời
gian. Việc này rất vừa tầm tay của quý vị, mà làm được nó thì đảng cầm quyền
không những tự cứu được mình mà còn được lưu danh muôn thuở trong lịch sử.
Ngược
lại, nếu các vị không dám làm việc này mà cứ loay hoay, tất bật mãi với việc
sửa đổi hiến pháp “mới mà vẫn như cũ” để cố bám lấy quyền
lực và quyền lợi thì chắc chắn đảng cầm quyền của các vị sẽ không tránh khỏi
diệt vong, tên tuổi của các vị sẽ bị phỉ nhổ muôn đời. Còn Dân tộc và Đất nước
cuối cùng nhất định sẽ giành được thắng lợi, nhưng phải trải qua muôn vàn hy
sinh, gian khổ để chống thù trong và giặc ngoài.
Đây là những suy tư đầu năm của kẻ viết
bài này. Mong rằng các bậc thức giả nước ta cho ý kiến về vấn đề quan trọng
này.
Đầu năm Quý Tỵ, 2013.
Nguyễn
Minh Cần

RSS Feed
Facebook
Twitter
0 comments:
Đăng nhận xét