Bài này của tác giả Trần Ngân
gửi trực tiếp cho viet-studies
dưới đầu đề: Thủ tướng Dũng và nền kinh tế thị trường “định hướng quyết liệt”.
BVN xin phép đăng lại và chỉ
thay lại đầu đề như trên để độc giả nắm ngay được cái hồn cốt của bài.
Bauxite Việt Nam
Ngày
27/06/2006, Quốc hội bầu ông Nguyễn Tấn Dũng lên làm Thủ tướng. Trong cuộc trả
lời trực tuyến đầu tiên của một thủ tướng Việt Nam vào ngày 9/2/2007, ông dùng rất
nhiều từ “quyết liệt”. Trong toàn bộ cuộc trả lời được ghi tại đây (Chính phủ, 9/2/2007),
thủ tướng Dũng đã ít nhất 7 lần dùng từ “quyết liệt” trong mọi lĩnh vực, từ
điều hành kinh tế, văn hóa xã hội tới chống ùn tắc giao thông, chống tham
nhũng…
Thực
ra thủ tướng Dũng không phải vị lãnh đạo cao cấp đầu tiên dùng từ “quyết liệt”.
Các vị tiền nhiệm của ông như Võ Văn Kiệt hay Phan Văn Khải cũng có dùng từ này
nhưng với tần
suất rất thấp, chỉ đôi khi mới nghe thấy. Nhưng từ khi thủ tướng Dũng lên nắm quyền thì từ “quyết liệt” được dùng rất nhiều ở Việt Nam. Có thể khẳng định chắc chắn là do thủ tướng rất thích dùng từ này nên đã tạo ra một trào lưu ăn theo nói leo của đám cấp dưới đến nỗi theo tác giả bài này, có thể gọi thủ tướng là “Dũng quyết liệt” và nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây là “Nền kinh tế thị trường theo định hướng quyết liệt”.
suất rất thấp, chỉ đôi khi mới nghe thấy. Nhưng từ khi thủ tướng Dũng lên nắm quyền thì từ “quyết liệt” được dùng rất nhiều ở Việt Nam. Có thể khẳng định chắc chắn là do thủ tướng rất thích dùng từ này nên đã tạo ra một trào lưu ăn theo nói leo của đám cấp dưới đến nỗi theo tác giả bài này, có thể gọi thủ tướng là “Dũng quyết liệt” và nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây là “Nền kinh tế thị trường theo định hướng quyết liệt”.
Trong
từ điển tiếng Việt, “quyết liệt” được định nghĩa là “kiên quyết” và “mãnh
liệt”. Điều này cho thấy những người hay dùng từ “quyết liệt” là những người có
“quyết tâm” cao, rất nhiệt huyết trong công việc, cống hiến hết mình, liên tục
làm việc với cường độ cao để đạt được kết quả cao nhất trong công việc. Trong
một nền hành chính còn trì trệ như ở Việt Nam thì nếu có những người thật sự
“quyết liệt” như vậy thì quá là đáng quý quá. Vậy ở đây chúng ta thử điểm lại
những lĩnh vực mà thủ tướng Dũng đã chỉ đạo “quyết liệt” xem hiệu quả của những
chỉ đạo này tới đâu.
1. Quyết liệt tăng
trưởng kinh tế
Thủ
tướng Dũng là người thích tăng trưởng cao nên tất nhiên đây là lĩnh vực được
thủ tướng ưu tiên “quyết liệt”. Ngay khi mới nhận chức, vào cuối năm 2006, khi
họp Chính phủ:
Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng: Tập trung chỉ đạo quyết liệt, hoàn thành thắng
lợi nhiệm vụ KT-XH năm 2006 (Chính phủ, 1/12/2006)
Trong
kỳ họp Chính phủ tháng 10/2007, dù lạm phát đã tăng cao ở mức nguy hiểm nhưng
thủ tướng vẫn chỉ thị:
…
để đạt mục tiêu tăng GDP 8,5% trong năm 2007, đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương
phải tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp chỉ đạo mạnh
mẽ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đề ra từ đầu năm đến nay. (Chính phủ, 6/10/2007)
Vào
tháng 12/2007, lạm phát đã tăng hơn 12% nhưng khi họp bàn về kế hoạch cho năm
2008, thủ tướng Dũng vẫn chỉ đạo trước cho năm mới:
Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng: Điều hành quyết liệt ngay từ đầu năm 2008 để đạt
tăng trưởng GDP 9% và chỉ số tăng giá cả thấp hơn tốc độ tăng GDP (Chính phủ, 24/12/2007)
Sang
năm 2009, khi bàn kế hoạch cho năm 2010:
Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết tăng trưởng GDP năm 2009 ước tính ở mức
5,2%, thấp nhất trong 10 năm gần đây. Trong năm 2010 Chính phủ sẽ thực hiện quyết
liệt 6 biện pháp để đạt tăng trưởng GDP 6,5%, thu nhập bình quân đầu người
1.200 USD. (Tiền phong, 20/10/2009)
Sang
tới năm 2013, thủ tướng vẫn tiếp tục “quyết liệt”:
Trong
phiên họp thường kỳ tháng 2 của Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu
cầu các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục triển khai thực hiện quyết liệt,
hiệu quả các giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP và 02/NQ-CP…(Chính phủ, 28/2/2013)
Không
rõ hiệu quả của sự “quyết liệt” trong điều hành và chỉ đạo của thủ tướng Dũng
tới đâu mà từ khi thủ tướng lên cầm quyền, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam có xu hướng thấp hơn hẳn giai đoạn trước đó (và có rất nhiều khả năng là sẽ
còn tiếp tục thấp trong thời gian tới):
Tốc
độ tăng trưởng GDP của Việt Nam, 2002-2012
Đơn
vị: %
2002
|
2003
|
2004
|
2005
|
2006
|
2007
|
2008
|
2009
|
2010
|
2011
|
2012
|
7,08
|
7,34
|
7,79
|
8,44
|
8,17
|
8,5
|
6,23
|
5,32
|
6,78
|
5,89
|
5,03
|
Nguồn: Tổng cục Thống kê
2. Quyết liệt
chống lạm phát
Do
hậu quả của chính sách mở rộng đầu tư để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế
mà sau khi thủ tướng Dũng lên nắm quyền, lạm phát bắt đầu có xu hướng tăng cao.
Ngay từ năm 2007, thủ tướng Dũng đã tỏ ra “quyết liệt” với lạm phát. Trong cuộc
họp ngày 12/8/2007 với các Bộ, ngành:
Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng: Quyết liệt kiềm chế tốc độ tăng giá thấp hơn tốc
độ tăng trưởng GDP. (Chính phủ, 12/8/2007)
Sang
năm 2008, đợi mãi lạm phát chưa xuống, thủ tướng lại tiếp tục “quyết liệt”
nhiều lần nữa, ví dụ:
Thủ
tướng vừa chỉ đạo các bộ, ngành quyết liệt kiềm chế lạm phát và ổn định
kinh tế vĩ mô những tháng cuối năm… (Vneconomy, 26/6/2008)
Sau
đó, do lạm phát là vấn đề nóng nên thủ tướng liên tục chỉ đạo “quyết liệt” về
vấn đề này, chẳng hạn:
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11/2010, Thủ tướng đã yêu cầu các
Bộ, ngành địa phương tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp kiềm
chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bình ổn thị trường, giá cả. (Infotv, 3/12/2010)
Các
năm sau cũng thế:
“Các
bộ, ngành, địa phương phải tiếp tục thực hiện nghiêm túc, quyết liệt,
kiên trì, đồng bộ các giải pháp và các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ về
bình ổn giá cả thị trường, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an
sinh xã hội”. (Petrotimes, 5/5/2011)
Họp
với các địa phương ngày 25/12/2012 về kế hoạch cho năm 2013, thủ tướng cũng căn
dặn:
Các
địa phương cố gắng, quyết liệt kiểm soát ngay trong tháng một tới. Quy
luật hàng năm cho thấy CPI quý một chiếm tỷ lệ lớn trong lạm phát cả năm. (Vnexpress, 26/12/2013)
Chỉ
tiếc là tốc độ tăng trưởng GDP càng được thủ tướng “quyết liệt” chỉ đạo thì
càng giảm trong khi lạm phát được chỉ đạo “quyết liệt” thì lại ngày càng tăng.
Tỉ
lệ lạm phát của Việt Nam, 2002-2012
Đơn
vị: %
2002
|
2003
|
2004
|
2005
|
2006
|
2007
|
2008
|
2009
|
2010
|
2011
|
2012
|
4
|
3
|
9,5
|
8,4
|
6,6
|
12,63
|
19,9
|
6,88
|
11,75
|
18,58
|
6,81
|
Nguồn: Tổng cục Thống kê
3. Quyết liệt với DNNN
Có
thể nói thủ tướng Dũng là một tín đồ rất sùng bái DNNN tới mức mê tín. Tháng
2/2011, sau khi Vinashin sụp đổ, thủ tướng vẫn nói:
“Nếu
trong khủng hoảng vừa qua, với những nguy cơ về tăng trưởng âm, về an sinh xã
hội, ổn định các chỉ tiêu vĩ mô, nếu không có các doanh nghiệp nhà nước,
chắc chắn chúng ta không đạt được những thành quả như hôm nay”, Thủ tướng
khẳng định.
(Chính phủ, 15/2/2011)
Mười
tháng sau đó, thủ tướng lại nhấn mạnh:
“Đánh
giá hiệu quả của DNNN phải công bằng, không thể nói DNNN là “ăn hại”. Những kết
quả mà DNNN đã đóng góp là không thể phủ nhận. Nếu không có DNNN thì Nhà
nước không thể điều tiết, ổn định vĩ mô” (Vietnamnet, 8/12/2011)
Đặc
biệt, thủ tướng Dũng có niềm si mê cuồng nhiệt với các tập đoàn lớn, đa ngành.
Nhà báo Huy Đức cho biết:
Trước
Đại hội Đảng lần thứ X, ông Nguyễn Tấn Dũng được giao làm Tổ trưởng biên tập
báo cáo kinh tế của Ban chấp hành Trung ương trước Đại hội. Ông đòi ghi vào báo
cáo chủ trương cho doanh nghiệp nhà nước được kinh doanh đa ngành. Các thành
viên trong tổ phản đối vì điều này ngược với quan điểm phát triển doanh nghiệp
nhà nước xác lập từ thời thủ tướng Võ Văn Kiệt. Thay vì tiếp thu, ông Nguyễn
Tấn Dũng đã viết ra giấy, buộc các thành viên trong tổ phải ghi vào Báo cáo
kinh tế nguyên văn: “Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng
công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số
ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi
phối”. (FB của Huy Đức)
Năm
2008, khi họp mặt với các tập đoàn con cưng, thủ tướng phê bình:
Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng thẳng thắn chỉ ra một số yếu kém, hạn chế của Tập
đoàn, Tổng công ty Nhà nước, đó là quy mô của các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà
nước còn nhỏ, thể hiện ở việc không có Tập đoàn nào được xếp vào danh sách
500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới” (Chính phủ, 22/2/2008).
Để
nhanh chóng làm cho các tập đoàn này “được xếp vào danh sách 500 của thế giới”,
thủ tướng đã chỉ đạo:
Các
Tập đoàn, DNNN cần tập trung đầu tư quyết liệt vào sản xuất kinh doanh,
đóng góp lớn hơn nữa vào tăng trưởng kinh tế đất nước, đồng thời góp phần giảm
lạm phát… Chính phủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các Tập đoàn, Tổng công ty
Nhà nước triển khai các công trình, dự án trọng điểm của Nhà nước có hiệu quả
cao, đúng tiến độ. (Chính phủ, 22/2/2008)
Năm
2011, thủ tướng lại “quyết liệt” giao chỉ tiêu cho các tập đoàn là phải tăng
trưởng được 15% bất chấp lạm phát đang tăng vùn vụt.
Năm
2011, Thủ tướng giao nhiệm vụ cho toàn khối: Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh
doanh, đầu tư để đạt mức tăng trưởng bình quân 15%. Trên tinh thần đó, Thủ
tướng yêu cầu các Tập đoàn, Tổng công ty đi đầu trong việc xây dựng các kế
hoạch và triển khai một cách sát sao, đồng thời quyết liệt, nỗ lực
thực hiện các giải pháp đẩy mạnh đầu tư, sản xuất kinh doanh (Chính phủ, 15/2/2011)
Kết
quả sau khi nhận được chỉ đạo là phải đầu tư “quyết liệt” để tăng trưởng nhanh,
tình hình các DNNN ngày càng bết bát, lỗ lã, nợ nần tăng cao khủng khiếp. Tính
tới cuối năm 2012 thì tổng nợ phải trả của các DNNN là hơn 1,33 triệu tỷ đồng
hay hơn 60 tỷ USD.
Sang
tới đầu năm 2013, lại tiếp tục có chỉ đạo:
Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu, trong năm 2013, thực hiện quyết liệt
việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo Đề án đã được phê duyệt, trọng
tâm là tập đoàn kinh tế và tổng công ty;… (Chính phủ, 16/1/2013)
4. Và “quyết liệt”
trong một số lĩnh vực khác
Thủ
tướng Dũng còn quyết liệt trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ chống tham
nhũng, xóa đói giảm nghèo, giảm nhập siêu, giảm lãi suất, giảm tiêu chảy… cái
gì thủ tướng cũng quyết liệt hết. Dưới đây là một vài ví dụ:
Quyết
liệt chống tham nhũng:
Thủ
tướng đã “quyết liệt” chống tham nhũng từ lúc mới nhậm chức:
Ngày 27/7,
tại Hà Nội, BCĐ Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã tiến hành phiên họp
lần thứ 4. Tại phiên họp, Thủ tướng chỉ đạo : công tác phòng, chống tham nhũng
phải được tiếp tục làm quyết liệt từ Trung ương đến địa phương. (Tiền phong, 27/7/2007)
Nhưng
tham nhũng mãi không giảm nên thủ tướng là Trưởng Ban chỉ đạo phòng chống tham
nhũng TW càng quyết liệt hơn:
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ yêu cầu đặt ra là phải tập trung chỉ đạo
thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nội dung phòng, chống tham nhũng
theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (Hà Nội mới, 25/4/2012)
Quyết
liệt xóa đói giảm nghèo:
Thủ
tướng đề nghị Bộ và ngành LĐ-TB&XH …tập trung làm quyết liệt hơn nữa
công tác giảm nghèo, đặc biệt giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân
tộc… (Người cao tuổi, 8/1/2013)
Quyết
liệt giảm lãi suất:
Thủ
tướng khẳng định, Chính phủ đang quyết liệt chỉ đạo các biện pháp điều
hành hạ lãi suất, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, trong đó tập trung
vào xử lý nợ xấu và hàng tổn kho. (Diễn đàn doanh nghiệp,
26/1/2013)
Quyết
liệt ngăn chặn phá rừng:
Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, các bộ, ngành và các tỉnh
Tây Nguyên quyết liệt tập trung ngăn chặn nạn phá rừng (VOV, 17/1/2012)
Quyết
liệt xử lý nợ xấu:
Thủ
tướng yêu cầu… Ngân hàng Nhà nước quyết liệt hơn nữa trong tái cơ cấu hệ
thống ngân hàng, xử lý nợ xấu thông qua quỹ trích lập dự phòng rủi ro, cơ cấu
lại nợ… (Người đồng hành, 28/2/2013)
Quyết
liệt tái cơ cấu ngân hàng
Tại
hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu NHNN chỉ đạo thực hiện quyết
liệt, toàn diện việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại giai đoạn
2011-2015. (Pháp luật TP.HCM, 18/12/2011)
Quyết
liệt đưa tiền về doanh nghiệp:
Chính
phủ yêu cầu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan khác chỉ đạo quyết
liệt làm sao để dòng tiền ra được và tới các doanh nghiệp. (VTC, 28/2/2013)
Quyết
liệt giảm nhập siêu:
Thủ
tướng cũng yêu cầu các bộ ngành quyết liệt trong việc đẩy mạnh xuất
khẩu, giảm nhập siêu. (Sài Gòn giải phóng, 16/3/2011)
Quyết
liệt thực hiện bảo hiểm y tế:
Thủ
tướng yêu cầu… ngành Y tế cần quyết liệt thực hiện BHYT toàn dân… (Bảo hiểm xã hội, 20/2/2013)
Quyết
liệt chống tiêu chảy:
Thủ
tướng yêu cầu các bộ, ngành và địa phương cần triển khai nghiêm các nội dung
phòng, chống dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm với tinh thần quyết liệt ở mức
cao nhất;(Sức khỏe đời sống, 2/11/2007)
Quyết
liệt giảm tai nạn giao thông:
Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu Ủy ban an toàn giao thông quốc gia, các Bộ Giao
thông vận tải, Công an và các cấp chính quyền tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa, quyết
liệt hơn nữa các biện pháp ngăn chặn, đẩy lùi tai nạn giao thông (Tuổi trẻ, 26/5/2011)
Quyết
liệt giảm quá tải bệnh viện:
Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp để giảm
quá tải bệnh viện, “xóa” tình trạng người bệnh phải nằm ghép và đề án phải hoàn
thành trước 30/6. (Dân trí, 1/3/2012)
Quyết
liệt trong công tác ngoại giao:
Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ, năm 2012, ngành Ngoại giao phải tiếp tục tập
trung nắm chắc tình hình để tham mưu, kiến nghị, đề xuất cho Đảng, Nhà nước
khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế, đồng thời ngành cần tận
dụng tối đa các cơ hội, vượt qua khó khăn, thách thức, nỗ lực, quyết
liệt hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ được giao. (Chính phủ, 14/12/2011)
5. Kết luận
Trên
đây chỉ là một số dẫn chứng tiêu biểu vì tác giả không muốn làm độc giả quá hoa
mắt vì những chỉ dụ “quyết liệt” đã được thủ tướng ban hành. Tóm lại, có thể
thấy rằng thủ tướng Dũng đã “quyết liệt” trong rất nhiều lĩnh vực nhưng bất
hạnh thay cho thủ tướng và người dân Việt Nam là hầu như lĩnh vực nào mà được
thủ tướng “quyết liệt” điều hành và chỉ đạo thì lĩnh vực đó chỉ có càng ngày
càng tệ đi.
Quyết
liệt thúc đẩy tăng trưởng thì tăng trưởng ngày càng đi xuống. Quyết liệt kiềm
chế lạm phát thì lạm phát ngày càng tăng lên đến mức cao thứ nhì thế giới trong
năm 2011. Quyết liệt kiềm chế tham nhũng thì tham nhũng và đi kèm với nó nạn
chạy chỗ, chạy chức, chạy quyền ngày càng lan rộng và ăn sâu vào nền kinh tế,
vào thể chế, vào toàn bộ xã hội. Quyết liệt điều hành đám con cưng tập đoàn thì
đám con cưng ngày càng ăn tàn phá hại, nợ đầm nợ đìa…
Có
thể có người cho là từ “quyết liệt” với thủ tướng Dũng đã trở thành “sáo ngữ”,
nói quen miệng nên đụng đâu nói đó. Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy.
Việc thủ tướng Dũng liên tục dùng từ này thể hiện rõ tư duy của ông về
cách điều hành nền kinh tế nói riêng và điều hành nhà nước nói chung.
Thủ
tướng cho rằng có thể dùng ý muốn, ý chí chủ quan của mình để can thiệp vào sự
vận hành khách quan của nền kinh tế và bắt nền kinh tế đi theo ý muốn chủ quan
của mình. Điều này là hết sức nguy hiểm. Khi một quốc gia chấp nhận nền kinh tế
thị trường tức là cũng phải chấp nhận rằng, về cơ bản thị trường thông minh
hơn trí khôn chủ quan của con người. Kinh nghiệm phát triển hàng trăm năm qua
cho thấy, dù có nhiều khiếm khuyết thì thị trường vẫn là cơ chế kinh tế tốt
nhất để tạo ra của cải và sự phồn vinh cho xã hội. Một nhà nước khôn ngoan là
nhà nước xây dựng một cơ chế thị trường minh bạch, dựa trên cơ chế cạnh tranh
để cho các chủ thể trong nền kinh tế tự vận hành và nhà nước chỉ là người tham
gia chỉnh sửa những khuyết tật của thị trường như hiện tượng ngoại ứng,
độc quyền hay thiếu hụt hàng hóa công. Nếu cứ cố gắng dùng các công cụ hành
chính can thiệp mạnh và hướng các nguồn lực khan hiếm của nền kinh tế đi theo ý
muốn chủ quan của mình thì gần như không tránh khỏi thất bại cay đắng.
Thực
tiễn nền kinh tế Việt Nam
trong vài năm qua đã cho thấy điều đó rất rõ. Chính vì thủ tướng Dũng đã muốn
các tập đoàn con cưng của mình nhanh chóng “sánh vai” với các tập đoàn lớn trên
thế giới nên đã “quyết liệt” dồn quá nhiều nguồn lực khan hiếm cho những cái
cối xay tiền như Vinashin, Vinalines, EVN, TKV[i]… Đáng lẽ
phải chống lạm phát bằng cách minh bạch hóa chi phí của các tập đoàn nhà nước,
tạo cơ chế để bắt buộc các doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng trên thị trường
thì lại can thiệp thô bạo bằng các mệnh lệnh hành chính như chỉ thị không được
tăng giá điện, giá than… làm thị trường ngày càng trở nên méo mó và cuối cùng
khi không kìm được giá nữa thì phải tăng đột ngột ở biên độ cao làm cho nền
kinh tế phải chịu các cú sốc không đáng có.
Việc
liên tục dùng từ “quyết liệt” ở tần suất cao cũng cho thấy tính cách của thủ
tướng Dũng là chỉ thích làm việc theo suy nghĩ chủ quan của mình, không muốn
nghe những lời can gián hay nói trái của cấp dưới. Điều này thể hiện quá rõ qua
việc thủ tướng giải thể Ban nghiên cứu của Thủ tướng ngay khi mới nhậm chức hay
ký Quyết định 97/2009/QĐ-TTg thu hẹp đáng kể quyền phản biện của các tổ
chức. Bản thân Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế TW là một viện nghiên cứu của
chính phủ nhưng khi phê phán chính phủ nhiều quá cũng bị thủ tướng nhắc nhở:
Người
đứng đầu Chính phủ đề xuất Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương hoàn
thiện hệ thống thể chế, “không nên phê phán Chính phủ nhiều nữa, cần tập
trung vào làm”. (Vietnamnet, 8/12/2011)
Một
quốc gia mà người lãnh đạo cao nhất không muốn nghe những lời nói trái của trí
thức, chỉ thích nghe tâng bốc, nịnh bợ mình thành “thủ tướng xuất sắc nhất châu
Á”, chỉ thích làm theo ý muốn chủ quan của mình thì làm sao quốc gia đó có thể
phát triển trong một môi trường quốc tế cạnh tranh ở mức độ rất cao như hiện
nay? Nguy hiểm hơn nữa là tư duy điều hành này của thủ tướng Dũng vẫn không có
gì thay đổi dù thủ tướng đã phải chịu sức ép mà xin lỗi trước Quốc hội vào cuối
năm 2012. Cứ nhìn những chỉ đạo trong thời gian gần đây của thủ tướng thì vẫn
đầy những từ “quyết liệt”.
Ngạn
ngữ phương Tây có câu rất hay là: “You cannot teach an old dog new tricks”
nghĩa là “Bạn không thể dạy trò mới cho một con chó già” rất đúng trong trường
hợp này. Như vậy đã có thể nhìn thấy trước tương lai của ViệtNam trong những
năm tới, nếu thủ tướng Dũng còn nắm quyền rồi.
Như
đã nói ở trên, việc thủ tướng Dũng ở đâu, lĩnh vực nào cũng dùng từ “quyết
liệt” cũng đã góp phần tạo nên một trào lưu ăn theo nói leo ở các quan chức
thấp hơn. Bây giờ mở bất cứ văn bản nào của các bộ ngành, cơ quan hành chính
mọi cấp, trong diễn đàn của hội đồng nhân dân, Quốc hội… đi đâu cũng thấy từ
“quyết liệt”. Một người có IQ ở mức bình thường cũng thừa hiểu rằng với mức
lương chính thức ở mức chưa đủ sống như hiện nay, muốn các viên chức nhà nước
làm việc ở mức “bình thường” cũng đã khó chứ đừng nói là bắt họ “quyết liệt”.
Từ
“quyết liệt” may lắm chỉ phù hợp trong những tình huống khẩn cấp như chống bão
lớn, cứu đói trên diện rộng… Dùng từ “quyết liệt” quá nhiều trong khi ai cũng
biết là chả thể “quyết liệt” nổi chính là làm cho xã hội trở nên quen với thói
dối trá, lãnh đạo thì thêm quen với việc hô hào suông những lời rỗng tuếch,
thùng rỗng kêu to, mồm miệng đỡ chân tay.
Tóm
lại, nếu thủ tướng Dũng và bộ máy dưới quyền vẫn tiếp tục giữ tư duy điều hành
nền kinh tế theo kiểu “quyết liệt” như từ giữa năm 2006 tới nay thì thủ tướng
càng Quyết, nền kinh tế sẽ càng Liệt hay nói đúng hơn là thủ tướng và bộ máy
của mình đang Quyết (tâm) làm đất nước Liệt đi như thực tế đang diễn ra.
T.
N.
[i] Cùng với
Phó thủ tướng lúc đó là ông Sinh Hùng đã ký văn bản ép các ngân hàng cho
Vinashin vay 10.000 tỷ (Vneconomy, 25/9/2008)
thì thủ tướng Dũng cũng chỉ đạo ngân hàng cho Tập đoàn điện lực EVN vay 10.000
tỷ để làm vốn lưu động (Tuổi trẻ, 6/9/2011)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét