Phạm Chí Dũng
![]() |
| DB Hoa kỳ Smith và dự dự luật nhân quyền VN HR 1897 vừa được Hạ viện thông qua |
Ba ngày sau
Chuyến đi của Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đến
Washington vào cuối tháng 7/2013 đã “gặt hái” được một kết quả gián tiếp nhưng
tức thì: chỉ ba ngày sau kết thúc hội đàm Obama - Sang, Hạ viện Hoa Kỳ đã thông
qua Luật nhân quyền Việt Nam với số hiệu HR 1897 với số phiếu áp đảo.
Có vẻ đúng như báo Nhân dân – cơ quan ngôn luận của Đảng –
đã định hướng, một “chương” mới cho quan hệ Mỹ - Việt đang mở ra.
HR 1897 cũng là văn bản đầu tiên xác nhận mối liên đới giữa
hai nhà nước với nhau, thay cho cuộc hội đàm Sang - Obama khá ngắn ngủi mà đã
không hiển lộ bất cứ kế hoạch triển khai chi tiết nào, ngoài bản tuyên bố chung
với hình thức khá giống một thông cáo báo chí.
Chỉ có điều, báo chí quốc tế lại đã không làm tròn phận sự của
mình. AP, CNN, AFP hay nhiều hãng truyền tin khác đã tỏ ra thờ ơ một cách đáng
bị khiển trách, lồng trong bầu không khí trầm mặc tại sân bay quân sự Andrew
không thảm đỏ và cũng không có cả đội danh dự.
Một phát ngôn có tính an ủi “hướng về tương lai” hóa ra lại
thuộc về John Kerry – cựu binh Mỹ ở chiến trường Nam Việt Nam và cũng là người
đã không ít lần bác bỏ bản dự luật nhân quyền Việt Nam do Hạ nghị viện chuyển
qua Thượng nghị viện.
Bữa ăn trưa Kerry - Sang ngồn ngộn những tính từ ngoại giao
và làm đầy đặn cho dạ dày xã giao, nhưng không khỏa lấp được hương vị của hai bản
dự luật nhân quyền đang lan tỏa.
Giới quan chức Việt Nam có lẽ vẫn băn khoăn: liệu vào năm
sau (2014), Ngoại trưởng Mỹ có thể một lần nữa không quan tâm đến Luật nhân quyền
Việt Nam?
“Triệt buộc”
Hình như người Mỹ đã tính toán sao cho hợp lý vào trước,
trong và nhất là sau chuyến đi của ông Sang đến Nhà trắng. Phái đoàn nghe nói
đông đến 200 người của Chủ tịch nước Việt Nam, ngoài việc được đón tiếp ngang cấp
đại sứ ở sân bay, đã không có cơ hội bước lên diễn đàn để “tôn giáo vận” và cao
hơn nữa là “địch vận” trong lòng Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ.
Năm chức sắc tôn giáo của Việt Nam cũng bởi thế đã không hiển
minh được chính kiến của họ về “thực tế sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam”.
Y Ky Ê Ban – mục sư Tin Lành trong cơ số chiếm trọn một chiếc
máy bay – là một minh họa điển hình. Sau chuyến đi lặng lẽ và âm thầm trở về
thành phố sương mù ngầy ngật mùi cà phê Ban Mê Thuột, ông mục sư này đã cho một
tổ chức truyền thông xã hội biết rằng trong suốt những ngày ở nước Mỹ, ông đã
không tiếp xúc với bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào người Mỹ hay người Việt
lưu vong.
Cũng có nghĩa là đã không có một cuộc “điều trần” nào của
phái đoàn ông Trương Tấn Sang trước Ủy ban về tự do tôn giáo và Ủy ban đối ngoại
của Hạ nghị viện Hoa Kỳ – một trạng thái không giống với nghị trình đã được
phía Việt Nam và cả các dân biểu tranh đấu cho tự do nhân quyền của Mỹ lập
trình chu đáo trước đó.
Có thể Chris Smith – Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Hạ nghị viện
Mỹ – đã “đi đêm” với Tổng thống Barak Obama về việc không cần nghe một lời
thanh minh nào thêm từ phía Việt Nam.
Cũng cho tới nay, vẫn không có bất cứ tin tức bàn thảo nội bộ
nào trong cuộc gặp Obama - Sang được tiết lộ từ phòng Bầu Dục. Tuy không có bằng
chứng nào về việc Obama đã “lên án” Hà Nội về vấn đề nhân quyền như một số nghị
sĩ Mỹ đề xuất, nhưng cũng không có chứng minh nào đủ thuyết phục về chuyện Tổng
thống Mỹ đã quay lưng với những người đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam.
Logic của vấn đề có thể được diễn đạt: một khi không cần đến
sự diễn giải của phái đoàn ông Sang về nhân quyền, người Mỹ đã chưa nhìn thấy
điều được gọi là “thành tâm chính trị” thể hiện rõ nét trong chuyến đi vừa qua,
và do vậy người Mỹ tự cho mình cái quyền đẩy Hà Nội vào tình thế đánh đố nhiều
hơn là gợi mở.
Với HR 1897, có thể coi đó là thế “triệt buộc”.
Sân khấu vẫn ẩn giấu sau một tấm màn khép kín mà chưa viễn
tượng ra tương lai.
“Hòa hợp hòa giải”
Tương lai ấy, Nhà nước Việt Nam đã không thể có cơ hội tiếp
cận bằng chính xúc giác của họ trong chuyến đi Washington vừa qua. Từ TPP đến
“đối tác chiến lược” và vũ khí sát thương, tất cả đều không hé lộ một triển vọng
nhanh chóng nào.
Thế nhưng, việc thông qua Luật nhân quyền Việt Nam chỉ ít
ngày sau cuộc gặp Obama - Sang và trước thời hạn quy định của Hạ viện Mỹ lại là
lời đánh đố mở màn, như biểu lộ động thái cần nhanh chóng làm cho Hà Nội hiểu rằng
họ đang ở vào năm 2013 chứ không còn là năm 2006 – thời điểm mà Nhà nước Việt
Nam được “bóc tách” khỏi danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về nhân
quyền và tôn giáo (CPC), để chuẩn bị cho cuộc tiến chiếm bàn tròn WTO với tư
cách là thành viên thứ 150.
Rất có thể, người Mỹ đang chơi bài theo cách của Bắc Kinh, với
những nhấn nhá và điểm xuyết cho bức tranh quan hệ hữu hảo có điều kiện.
Và không thiếu ràng buộc…
Bài học mà người Mỹ có lẽ đã không ít lần ôn lại là kể từ
khi không còn nằm trong danh sách CPC vào năm 2006, tình hình nhân quyền và tôn
giáo ở Việt Nam lại trở nên “tự do” đến mức mà giới quan sát phương Tây phải
yêu cầu chính quyền Mỹ đóng cửa quan hệ với Hà Nội.
Nếu Trương Tấn Sang đã tâm tư thành thật bằng vào hành động ẩn
dụ trao cho Obama bản sao bức thư của ông Hồ Chí Minh đề nghị Tổng thống Mỹ
Harry Truman “giúp đỡ Việt Nam” vào năm 1946, thì sau gần bảy chục năm, liệu
người ta có thể ghi nhận một “thành tâm chính trị” nào đó của Hà Nội, ít nhất bằng
vào một động thái giải tỏa nhân quyền đối với giới nhân sĩ và trí thức dân chủ
vẫn còn trong vòng “cưỡng chế” nơi đây, để đổi lại quy chế TPP, như đã từng
đánh đổi quy chế tối huệ quốc vào năm 2000?
Cách chơi bài của người Mỹ là kiểu cách với điếu xì gà trên
miệng cùng những vòng khói tỏa ra từ lỗ mũi thâm sâu của người Trung Hoa. Bầu
không khí ấy có vẻ không hứa hẹn một viễn cảnh được phác ra sớm sủa, mà có lẽ sẽ
kéo dài theo một quy luật được tích tụ từ dĩ vãng: độ mở của Washington tùy thuộc
vào thái độ bớt khép kín của Hà Nội.
Sau chuyến đi được đại sứ Hoa Kỳ David Shear xem là “cơ hội
lịch sử”, mọi chuyện đang rẽ sang một khúc quanh mới. Hợp tác quân sự ở Biển
Đông, TPP và cả chủ đề dân chủ nhân quyền đều đang hé lộ triển vọng, ít nhất
trên phương diện hứa hẹn.
Nhưng ngay trước mắt, giới hoạt động dân chủ và nhân quyền ở
Việt Nam, với sứ mệnh không chỉ phản biện xã hội mà còn đóng vai trò cầu nối giữa
chế độ và quốc tế, đã có thể bắt đầu nghĩ đến một khả năng “hòa hợp hòa giải” với
chính thể, để cùng giữ cho đất nước này tránh thoát khúc quanh đầy tai biến
trong những năm tháng tới.
DienDanCTM
nguồn: http://boxitvn.blogspot.com/2013/08/

RSS Feed
Facebook
Twitter
0 comments:
Đăng nhận xét