Công hàm vô giá trị: tiếp theo và hết.



Phúc Linh
                                              Phần II
                                  Lập luận của Trung Cộng

Trong một cuộc tranh chấp, thiết nghĩ chúng ta cần phải biết lập trường, quan điểm, lý lẽ của đối phương là Trung Cộng như thế nào.
Trung Quốc có đầy đủ căn cứ pháp lý về chủ quyền quần đảo Nam Sa
Theo tài liệu “Chủ quyền tuyệt đối của Trung Quốc trên quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc (Beijing Review, 18/2/1980), thì Hà Nội đã “dàn xếp” vấn đề này trong quá khứ.
           - Hồi tháng 6 năm 1956, hai năm sau ngày chính phủ của ông Hồ Chí Minh đã được tái lập tại Hà Nội, Thứ trưởng Ngoại giao Bắc Việt Ung Văn Khiêm nói với Li Zhimin, Xử lý Thường vụ Toà Đại Sứ Trung quốc tại Bắc Việt, rằng “theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là môt bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc”.

          - Ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố bề rộng của lãnh hải Trung Quốc là mười hai hải lý, được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, “bao gồm … Quần Đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa …”.
          Mười ngày sau đó, Phạm Văn Đồng đã ghi rõ trong bản công hàm gởi cho Chu An Lai, rằng “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa về vấn đề lãnh hải”.
Ðây là của văn bản của nhà nước Việt Nam do Phạm Văn Ðồng ký gởi cho Chu Ân Lai vào ngày 14/9/1958 để ủng hộ cho lời tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.
………………………………………………..
Báo Beijing Review hôm Thứ Hai  1-8-2011 khẳng định lần nữa chủ quyền Trung Quốc toàn bộ trên Hoàng Sa và Trường Sa, mà TQ gọi là Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa).
Bài viết nêu ra luận điểm:
“Từ 1954 tới 1975, chính phủ CSVN công khai công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ TQ trong nhiều trường hợp.
Thí dụ, Thủ Tướng VN Phạm Văn Đồng xác nhận những đảo này là lãnh thổ TQ trong văn thư ngoại giao gửi Thủ Tướng TQ Chu Ân Lai vào ngày 14-9-1958.
Sau đó, còn được xác nhận bởi một bản đồ thế giới xuất bản bởi Tổng Tư Lệnh Quân Lực CSVN năm 1960. Trong bản đồ, đảo Nam Sa (tức Trường Sa) được ghi là lãnh thổ TQ. Rồi sau đó, vào năm 1972, Sở Thăm Dò và Bản Đồ VN in một bản đồ trong đó đảo Nam Sa viết bằng chữ Trung Hoa, chứ không phải viết bằng tiếng Việt, Anh hoặc Pháp.”
Đó là những chi tiết mới do phía Trung Quốc đưa ra. Không hiểu đó có phải là sự đồng thuận thực sự giữa TQ-VN hay không?
Chưa thấy Bộ Ngoại Giao VN trả lời.
…………………………….
Về vấn đề tấm bản đồ thế giới với ghi chú quần đảo Hoàng Sa là của Trung quốc, Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ đã trả lời như sau:
                                                     “Trích”
“Với mục đích theo đuổi chuẩn mực phù hợp và chính xác, Hội địa lý quốc gia (National Geographic Society- NGS), có bề dầy lịch sử 122 năm  là một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động trong lĩnh vực khoa học và giáo dục, chúng tôi luôn cố gắng tham khảo nhiều nguồn để đưa ra những quyết định độc lập dựa trên những nghiên cứu kỹ càng.
Chúng tôi không tìm cách giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ giữa các bên về chủ quyền cũng như cách gọi tên, nhưng luôn theo một chính sách mang tính thực tế – có nghĩa là, nhằm miêu tả một cách tốt nhất cho bất kỳ người đọc hoặc người xem nào tình trạng thực tế.
Đối với quần đảo Paracel Islands (tên gọi truyền thống từ lâu đời), National Geographic thừa nhận rằng quần đảo này đã bị chiếm đóng và quản lý bởi chính phủ Trung Quốc từ năm 1974, và do vậy sử dụng tên Tây Sa của Trung Quốc như tên gọi chính. Điều này phù hợp với chính sách bản đồ của chúng tôi.
Trên bản đồ của khu vực hoặc những bản đồ có tỉ lệ đủ lớn, chúng tôi cũng thừa nhận và ghi chú tên tiếng Việt là Hoàng Sa, với lưu ý  rằng  Trung Quốc hiện chiếm giữ và quản lý các quần đảo này, trong khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Chúng tôi tin tưởng rằng đó là thực tế mà tất cả chúng ta đều đã rõ.
Gần đây xẩy ra nhiều khiếu nại về các ghi chú trên bản đồ thế giới của chúng tôi, tỉ lệ quá nhỏ của bản đồ gây khó khăn cho chúng tôi trong việc ghi các thông tin chi tiết về các quần đảo nhỏ như quần đảo Hoàng Sa.
Chúng tôi đã xem xét kỹ tình hình và nhận ra rằng, nếu chỉ đơn giản ghi tên các quần đảo này bằng tiếng Hoa và chữ “Trung Quốc” mà không có thêm lời giải thích nào có thể gây ra hiểu lầm đáng tiếc.
Trong tương lai, chúng tôi sẽ cung cấp những lời giải thích về tên gọi trên các bản đồ của chúng tôi, hoặc chúng tôi sẽ bỏ qua, không ghi bất kỳ tên gọi nào. Chúng tôi hy vọng điều này sẽ tốt hơn với thực tế hiện nay trong việc chú giải trên các bản đồ có tỉ lệ lớn.
Cập nhật ngày 25/03/2010
Ủy ban Chính sách Bản đồ thuộc Hội Địa Lý Quốc Gia gần đây đã có cuộc gặp gỡ để thảo luận về vấn đề này một cách chi tiết hơn. Dựa trên những thông tin tốt nhất và những nghiên cứu sẵn có, Ủy ban Chính sách Bản đồ cố gắng đưa ra các đánh giá độc lập về những thay đổi trong tương lai hoặc cách giải thích trên các bản đồ của mình, cũng như trong việc sửa các lỗi đã có.
Các quy ước đặt tên của quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ của chúng tôi sẽ được sửa đổi như sau:
* Bản đồ thế giới với tỉ lệ nhỏ hơn: Sử dụng tên thông thường – Paracel Islands – và sẽ không ghi chú sở hữu của nước nào.
* Bản đồ khu vực, châu lục với tỉ lệ lớn hơn: Sử dụng tên thông thường  – Paracel Islands – với ghi chú về sở hữu rằng: chiếm đóng bởi Trung Quốc trong năm 1974, mà Trung Quốc gọi là Tây Sa Qundao;  Việt Nam đòi chủ quyền, tên Việt Nam là Hoàng Sa.
Các quy ước này sẽ được áp dụng trên các ấn phẩm phát hành trong tương lai với các bản đồ của chúng tôi, và cả trên các bản đồ trực tuyến trong thời gian ngắn sắp tới.
Nguồn: National Geographic Society   Ngọc Khánh lược dịch.
                                                  “Hết trích”
                                               Phần III
                          Lập trường của nhà cầm quyền CSVN
Trong một số bài viết, các tác giả đã viện dẫn câu "Lúc đó là thời kỳ chiến tranh và tôi đã phải nói như vậy" của CSVN để  giải thích bản Công hàm đã được viết ra trong hoàn cảnh như thế nào.
Đó là năm 1958, vào thời điểm này, giữa hai miền Nam – Bắc Việt Nam chưa có chiến tranh, câu “"Lúc đó là thời kỳ chiến tranh” là chiến tranh ở  đâu?  Và bởi vì  lý do có chiến  tranh, nên “ tôi đã phải nói như vậy".  Quí vị hiểu như thế nào về ý nghĩa câu giải thích này? 
CSVN giải thích rằng vào thời điểm 1958, lãnh hải của các quốc gia chỉ là  03 hải lý. Thời gian này, Trung quốc đang muốn chiếm Đài loan tức là Trung Hoa quốc gia do Tưởng Giới Thạch làm Tồng thống, vì lo sợ bị Trung quốc xua quân  tiến chiến, nên Trung hoa quốc gia và Hoa Kỳ đã ký một hiệp ước liên minh phòng thủ, theo đó, quốc gia nào tấn công Đài loan đồng nghĩa với tấn công Hoa Kỳ, Trung quốc đang bị đe dọa trước hiểm họa bị Hoa Kỳ tấn công, như vậy, đây là thời kỳ chiến tranh của Trung Cộng, và Trung Cộng đã nới rộng vùng lãnh hải từ 3 hải lý ra 12 hải lý để đề phòng việc tàu chiến  Hoa Kỳ tiến sát vào Trung quốc, đe dọa an toàn lãnh thổ Trung hoa.
Có một tài liệu viết lại bối cảnh lịch sử thời kỳ năm 1958 tại Trung quốc để giải thích tại sao Trung Cộng lại nới rộng vùng lãnh hải từ 03 hải lý thành 12 hải lý, như sau:
                                                   “Trích”

“Ngày 26/5/1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan.

Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3/9/1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ.

Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất.

Ngày 11/8/1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ "giải phóng" Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ.

Ngày 12/9/1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này.

Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23/8/1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn.

Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.

Ngoài bối cảnh "phức tạp và cấp bách" đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH -Trung Quốc lúc đó  "vừa là đồng chí vừa là anh em".

Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc.

Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam.

Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH - Trung Quốc lúc bấy giờ.

Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp.

Việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan.

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích "sâu xa" của họ trên Biển Đông nên đã "lồng ghép" thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố.

Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc”.

………………………
Tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa (1979)

Vào ngày 30/7/1979, Trung Quốc đã công khai công bố tại Bắc Kinh một số tài liệu với ý định để minh chứng cho việc tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Về vấn đề này, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam tuyên bố:

1. Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Các Sứ quân Việt Nam đã là những người đầu tiên trong lịch sử đến chiếm đóng, tổ chức, kiểm soát và khai phá các quần đảo này trong chức năng của họ như là các lãnh chúa. Quyền sở hữu này có hiệu quả và phù hợp với luật pháp quốc tế.
Chúng tôi có đầy đủ các tài liệu lịch sử và luật pháp để chứng minh chủ quyền tuyệt đối trên hai quần đảo này.

2. Sự diễn giải của Trung quốc về văn bản ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà như một sự công nhận chủ quyền của phiá Trung quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản văn chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung quốc.

3. Năm 1965, Hoa Kỳ gia tăng cuộc chiến tranh xâm lược tại miền Nam Việt Nam và phát động một cuộc chiến huỷ diệt bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc Việt Nam. Họ đã tuyên bố rằng khu vực chiến trường của quân đội Hoa Kỳ bao gồm Việt Nam và vùng lân cận của khu vực khoảng 100 hải lý tính từ bờ biển Việt Nam.

Vào lúc đó, trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước, nhân dân Việt Nam đã phải chiến đấu trong mọi tình huống để bảo vệ chủ quyền đất nước. Thêm nữa, Việt Nam và Trung Quốc lúc đó vẫn duy trì quan hệ hữu nghị.
Bản tuyên bố ngày 9/5/1965 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đưa ra lý do để tồn tại chỉ với quá trình lịch sử này.

4. Từ năm 1972,  theo sau Bản Thông cáo chung Thượng Hải, những kẻ cai trị Trung Quốc đã âm mưu với bọn hiếu chiến Mỹ để phản bội nhân dân Việt Nam, gây ra biết bao nhiêu trở ngại cho cuộc chiến tranh tự vệ của Việt Nam.

Ðầu Tháng Giêng 1974, chỉ trước khi nhân dân Việt Nam toàn thắng vào mùa Xuân 1975, Trung Quốc đã chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp quân sự, lúc đó vẫn dưới sự quản lý của chính quyền Sài Gòn.

Việt Nam Cộng Hòa lúc đó đã tuyên bố rõ ràng cương vị của họ như sau đây:

- Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là những câu hỏi thiêng liêng cho tất cả mọi quốc gia.


- Những khó khăn về biên giới lãnh thổ, thường tồn tại trong các cuộc tranh chấp giữa các nước láng giềng do lịch sử để lại, có thể vô cùng rắc rối và nên được nghiên cứu kỹ càng.

- Các quốc gia quan tâm nên cứu xét vấn đề này trong tinh thần công bằng, tôn trọng lẫn nhau, hòa nhã, láng giềng tốt và giải quyết vấn đề bằng sự thương lượng
.

5. Tại các cuộc thảo luận tổ chức vào ngày 24/9/1975 với phái đoàn Ðảng và Nhà nước Việt Nam trong chuyến thăm viếng Trung Quốc, Phó Thủ tướng Ðặng Tiểu Bình đã thú nhận rằng có sự tranh chấp giữa hai bên về vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và hai bên sau đó nên bàn thảo với nhau để giải quyết vấn đề
6. Chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa một cách bất hợp pháp bằng quân sự, Trung Quốc đã xâm phạm vào sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và dẫm chân lên làm cản trở tinh thần của Hiến chương Liên Hiệp Quốc kêu gọi giải quyết tất cả các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình.
Sau khi phát động một cuộc chiến xâm lược Việt Nam với tầm vóc to lớn, phía Trung Quốc lại nêu ra vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong khi tạo ra một tình trạng càng ngày càng căng thẳng dọc theo biên giới Việt Nam và từ chối việc thảo luận những giải pháp cấp thiết để bảo đảm hoà bình và ổn định trong khu vực biên giới giữa hai nước.
Ðiều rõ ràng là những kẻ cai trị Trung Quốc vẫn không từ bỏ ý định tấn công Việt Nam một lần nữa. Hành động của họ là một sự đe doạ nghiêm trọng cho hoà bình và ổn định trong vùng Ðông Nam Á và làm lộ rõ hơn tham vọng bành trướng, với bản chất bá quyền hiếu chiến của một nước lớn,  bộ mặt xảo trá lật lọng và phản bội của họ.

Hà Nội, ngày 7 tháng 8 năm 1979
……………………………………….
Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc ngày 3/5 đã gửi thư lên tổ chức này về hai văn bản của Philippines và Trung Quốc liên quan tới chủ quyền Biển Đông.

Bức thư gửi đến Ban phụ trách các vấn đề đại dương và Luật biển của LHQ nhắc tới công hàm số 000228 ngày 5/4/2011 và công hàm số CML/8/2011 ngày 14/4/2011 do Philippines và Trung Quốc gửi tới Tổng thư ký LHQ.

Phái đoàn thường trực đã chuyển đến LHQ quan điểm của chính phủ Việt Nam rằng: “Quần đảo Hoàng Sa (Paracel) và Trường Sa (Spratly) là những phần không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam có đầy đủ những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình với hai quần đảo này”.
……………………..


Vào tháng 5/2009, một ngày sau khi Trung Quốc đưa ra bản đồ chín đoạn (còn gọi là đường lưỡi bò) lên ủy ban của LHQ, Việt Nam và Malaysia đã đệ đơn phản đối.

Indonesia, tuy không phải là bên tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, cũng phản đối bản đồ của Trung Quốc trong năm ngoái.

Trong cả bốn thư ngoại giao đệ trình lên LHQ chống lại bản đồ chín đoạn của Trung Quốc, chỉ có thư phản đối của Philippines khiến Bắc Kinh gửi công hàm đáp trả lên Tổng thư ký LHQ Ban Ki-Moon.

Thái An

                                                   “Hết trích”

 
                                    
                                           Phần IV
            Lập trường của chính phủ Việt Nam Cộng hòa
Năm 1974, sau ngày xảy ra cuộc hải chiến giữa hải quân VNCH và hải quân Trung Cộng, những buổi hội thảo về vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa được tổ chức khắp nơi. Ngày đó, tôi đang có mặt tại thành phố Huế, tham dự một buổi hội thảo của chính trị gia Lê Đình Cai và GS. Nguyễn Văn Kính,  được biết một giải pháp cho Việt Nam với sự thỏa thuận của Hoa Kỳ đã được nhận rõ qua cuộc hải chiến,  vì Đệ thất hạm đội Hoa Kỳ cũng có mặt trong vùng hải chiến nhưng đã nhẫn tâm “bất động” theo dõi cuộc hải chiến mà không can thiệp.
Sau khi Trung Cộng ra Tuyên bố yêu sách với Việt Nam về Hoàng Sa – Trường Sa, Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc ra Tuyên cáo phản đối.
Trích Bạch thư của Bộ Ngoai giao VNCH về vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa

                                                   “Trích”

               Tuyên cáo của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (1974)

“ Sứ mạng quan trọng và cao quý nhất của một Chính Phủ là bảo vệ chủ quyền, sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ Quốc Gia. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa quyết tâm theo đuổi trọng trách này, bất kể các gian nan có thể phải đối đầu và bất kể các chướng ngại vô cớ xuất phát từ bất cứ nơi đâu.

Trước sự xâm lấn quân sự bất hợp pháp của Trung Cộng trên các quần đảo Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa cần long trọng tuyên bố trước dư luận thế giới, cũng như đến bạn và thù rằng:

Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần lãnh thổ không thể tách rời được của Việt Nam Cộng Hòa. Chính Phủ và Nhân Dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ không khuất phục trước bạo lực và từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền trên các đảo đó.

Ngày nào một hải đảo đơn độc của một phần lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa bị cưỡng chiếm bởi một quốc gia khác, ngày đó Chính Phủ và Nhân Dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ tiếp tục chiến đấu để giành lại chủ quyền chính đáng của họ.

Những kẻ chiếm cứ bất hợp pháp sẽ phải chịu mọi trách nhiệm cho bất cứ sự căng thẳng xẩy đến bất cứ từ đâu.

Nhân cơ hội này, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng long trọng xác nhận lại chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên các hải đảo ngoài khơi của miền Trung và Nam Việt Nam, mà đã được kiên định xác nhận như là một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa trên những căn bản không thể phủ nhận được về địa lý, lịch sử, pháp lý và trên nhiều sự kiện thực tế.
Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa nhất quyết bảo vệ chủ quyền Quốc Gia trên các đảo này bằng bất cứ giá nào.

Trong việc giữ gìn chính sách ôn hòa truyền thống, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng giải quyết, qua thương thảo, các tranh chấp quốc tế có thể xảy ra về các đảo này, nhưng điều đó không có nghĩa là chấp nhận từ bỏ chủ quyền trên bất cứ phần nào thuộc lãnh thổ Việt Nam”.

                                           “Hết trích”                                             

Phúc Linh

                                        Phần V
                              Các nguồn dư luận
Có nhiều bài viết, nhiều hội luận nói về chủ quyền về phương diện lịch sử của Việt Nam  đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng tôi không đề cập lại trong bài viết này, chỉ xin viện dẫn một số ý kiến đặc biệt phân tích gíá  trị và hiệu lực pháp lý của bản Công hàm ngày 14/09/1958 đối với Việt Nam cũng như quốc tế, về chủ quyền lãnh thổ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, dưới đây:
                                                     
1/ Phỏng vấn của đài BBC dành cho Tiến sĩ Balazs Szalontai
Tiến sĩ Balazs Szalontai từng dạy ở Đại học Khoa học Công nghệ Mông Cổ và hiện là một nhà nghiên cứu độc lập ở Hungary. Ông là tác giả cuốn sách Kim Nhật Thành trong thời kỳ Khruschev (Đại học Stanford và Trung tâm Woodrow Wilson xuất bản, 2006)
BBC: Theo nhận định của ông, lá thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được viết trong hoàn cảnh nào?
Tiến sĩ Balazs Szalontai: Trước tiên, ta nói về tuyên bố của Trung Quốc. Nó ra đời trong bối cảnh có Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1956 và các hiệp định được ký sau đó năm 1958. Lẽ dễ hiểu, Trung Quốc, mặc dù không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc, cũng muốn có tiếng nói về cách giải quyết những vấn đề đó. Vì lẽ đó ta có tuyên bố của Trung Quốc tháng Chín 1958.
Như tôi nói ở trên, trong những năm này, Bắc Việt không thể làm phật ý Trung Quốc. Liên Xô không cung cấp đủ hỗ trợ cho công cuộc thống nhất, trong khi Ngô Đình Diệm ở miền Nam và chính phủ Mỹ không sẵn sàng đồng ý tổ chức bầu cử như đã ghi trong Hiệp định Geneva. Phạm Văn Đồng vì thế cảm thấy cần ngả theo Trung Quốc.
Dẫu vậy, ông ấy có vẻ đủ thận trọng để đưa ra một tuyên bố ủng hộ nguyên tắc rằng Trung Quốc có chủ quyền đối với hải phận 12 hải lý dọc lãnh thổ của họ, nhưng tránh đưa ra định nghĩa về lãnh thổ này. Mặc dù tuyên bố trước đó của Trung Quốc rất cụ thể, nhắc đến toàn bộ các đảo bao gồm Trường Sa và Hoàng Sa mà Bắc Kinh nói họ có chủ quyền, thì tuyên bố của Bắc Việt không nói chữ nào về lãnh hải cụ thể được áp dụng với quy tắc này.
Dù sao trong tranh chấp lãnh thổ song phương này giữa các quyền lợi của Việt Nam và Trung Quốc, quan điểm của Bắc Việt, theo nghĩa ngoại giao hơn là pháp lý, gần với quan điểm của Trung Quốc hơn là với quan điểm của miền Nam Việt Nam.
BBC: Ngoài ra người ta còn nghe nói đến một tuyên bố tán thành với Trung Quốc của Ung Văn Khiêm, đưa ra năm 1956 khi ông này là Thứ trưởng Ngoại giao của Bắc Việt. Phía Trung Quốc đã công khai viện dẫn đến tuyên bố này. Nó có giúp ta hiểu thêm về lá thư của ông Phạm Văn Đồng?
Tiến sĩ Balazs Szalontai: Theo trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, vào giữa năm 1956, Ung Văn Khiêm đã nói với đại biện lâm thời của Trung Quốc rằng Hoàng Sa và Trường Sa về mặt lịch sử đã thuộc về lãnh thổ Trung Quốc.
Ban đầu tôi nghi ngờ sự chân thực của tuyên bố này. Năm 2004, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thậm chí xóa đi những chương tranh cãi của lịch sử Triều Tiên khỏi trang web của họ. Tức là họ sẵn sàng thay đổi quá khứ lịch sử để phục vụ cho mình.
Tôi cũng chấp nhận lý lẽ rằng nếu ông Khiêm quả thực đã nói như vậy, thì có nghĩa rằng ban lãnh đạo Bắc Việt thực sự có ý định từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng nay tôi nghĩ khác, mà một lý do là vì tôi xem lại các thỏa thuận biên giới của Mông Cổ với Liên Xô.
Tôi nhận ra rằng tuyên bố của Ung Văn Khiêm thực ra không có tác dụng ràng buộc.
Trong hệ thống cộng sản, tuyên bố của một quan chức như ông Khiêm được coi như đại diện cho quan điểm chính thức của ban lãnh đạo. Nhưng ban lãnh đạo cũng có thể bỏ qua ông ta và những tuyên bố của ông ta bằng việc sa thải theo những lý do có vẻ chả liên quan gì. Đó là số phận của Ngoại trưởng Mông Cổ Sodnomyn Averzed năm 1958. Trong lúc đàm phán về biên giới Liên Xô – Mông Cổ, ông ta có quan điểm khá cứng rắn, và rất có thể là vì ông ta làm theo chỉ thị của ban lãnh đạo. Nhưng khi Liên Xô không chịu nhả lại phần lãnh thổ mà Mông Cổ, chỉ trích “thái độ dân tộc chủ nghĩa” của Averzed, và đòi Mông Cổ cách chức ông ta.
Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai là người nhận thư của Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng năm 1958.
Trong trường hợp Ung Văn Khiêm, ông ta khi ấy chỉ là thứ trưởng, và chỉ có một tuyên bố miệng trong lúc nói riêng với đại biện lâm thời của Trung Quốc.
Trong hệ thống cộng sản, tuyên bố miệng không có cùng sức mạnh như một thông cáo viết sẵn đề cập đến các vấn đề lãnh thổ. Nó cũng không có sức nặng như một tuyên bố miệng của lãnh đạo cao cấp như thủ tướng, nguyên thủ quốc gia hay tổng bí thư.
Rõ ràng các lãnh đạo Bắc Việt không ký hay nói ra một thỏa thuận nào như vậy, vì nếu không thì Trung Quốc đã công bố rồi.
BBC: Theo ông, lá thư của Phạm Văn Đồng có ý nghĩa pháp lý nào không?
Tiến sĩ Balazs Szalontai: Nó khiến cho quan điểm của Việt Nam bị yếu đi một chút, nhưng tôi cho rằng nó không có sức nặng ràng buộc.
Theo tôi, việc các tuyên bố của Trung Quốc nhấn mạnh nguyên tắc “im lặng là đồng ý” không có mấy sức nặng.
Chính phủ miền Nam Việt Nam đã công khai phản đối các tuyên bố của Trung Quốc và cố gắng giữ các đảo, nhưng họ không ngăn được Trung Quốc chiếm Hoàng Sa. Trung Quốc đơn giản bỏ mặc sự phản đối của Sài Gòn. Nếu Hà Nội có phản đối lúc đó, kết quả cũng sẽ vậy thôi.
2/  Tác giả Lữ Giang
Tác giả Lữ Giang có  hai bài viết về bản Công hàm ngày 14/09/1958 của ông cố Thủ tướng CSVN  Phạm Văn Đồng, đó là các bài  “Trở lại chuyện bán đất” và “Công hàm Phạm Văn Đồng”
                                      Bài viết “Trở lại chuyện bán đất”

        Văn kiện mang tên “Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo Tây Sa và Nam Sa” được tạp chí Beijing Review in lại trong số ra ngày 18.2.1980, trong đó nói rõ Hà Nội đã thỏa hiệp được với Bắc Kinh trong quá khứ về việc này như sau:

      “Vào tháng 6 năm 1956, hai năm sau khi chính phủ của ông Hồ Chí Minh đã thành lập tại Hà Nội, Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Ung Văn Khiêm đã nói với ông Li Zhimin, tham tán sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, rằng theo dữ liệu của Việt Nam thì đảo Tây Sa (tức Paracels, Hoàng Sa) và đảo Nansha (tức Spratleys, Trường Sa) là một phần thuộc Trung Quốc theo lịch sử”.
      
       Những sự kiện được tiết lộ trên cho thấy Đảng CSVN đã đồng ý giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc để đổi lấy việc Trung Quốc viện trợ đầy đủ cho Đảng CSVN chiếm miền Nam Việt Nam.

      Từ tháng 8 năm 1956, Lê Duẩn, Bí Thư Xứ Ủy Nam Bộ, đã viết “Đề Cương Cách Mạng Miền Nam”. Tháng 1 năm 1959 Hội Nghị Trung Ương Đảng CSVN lần thứ 15 đã ra nghị quyết “giải phóng miền Nam”.

      Tuy nhiên, sau khi chiếm được miền Nam rồi, vào khoảng cuối năm 1975, Việt Nam bắt đầu giành quyền kiểm soát một phần quần đảo Trường Sa, còn Hoàng Sa hoàn toàn do Trung Quốc nắm giữ.

         Đến năm 1977, cựu Thủ tướng Phạm văn Đồng giải thích về quan điểm của ông hồi năm 1958 rằng “đó là thời chiến và ông phải nói như vậy thôi”.



        GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG HÀM

        Trong một vài bài trước đây, chúng tôi có viết rằng công hàm ngày 14.9.1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý vì hai lý do sau đây:

        Lý do thứ nhất: Lúc đó hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc VNCH. Tục giao pháp lý Latin có câu: “Nemo dat quod non habet”, tức không ai cho cái mình không có. Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc miền Bắc nên Đảng CSVN không thể giao cho Trung Quốc được.

        Lý do thứ hai: Điều 23 của Hiến Pháp ngày 9.11.1946 quy định: “Nghị viện nhân dân (tức quốc hội)… chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài.”
     
       Công hàm ngày 14.9.1958 không được quốc hội phê chuẩn nên không có giá trị.

        Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu lại luật lý, chúng tôi thấy công hàm ngày 14.9.1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng chỉ là một lời hứa bán (promesse de vente): Hà Nội hứa với Bắc Kinh rằng nếu Bắc Kinh viện trợ cho Hà Nội đầy đủ phương tiện để chiếm miền Nam, sau khi chiếm được, Hà Nội sẽ giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.

        Theo luật, học lý và án lệ của cả hai hệ thống Roman Law (áp dụng tại hầu hết các nước trên thế giới) và Common Law (hệ thống Anh Mỹ), lời hứa bán này có giá trị.

       Như chúng tôi đã trình bày, hệ thống Roman Law áp dụng nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente”, tức hứa bán có giá trị như bán với hai điều kiện sau đây:

       (1)  Vật hứa bán đã được xác định, trong trường hợp này là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

        (2)  Giá bán cũng đã được thỏa thuận, trong trường hợp này, Trung Quốc cam kết viện trợ cho Hà Nội đủ phương tiện đánh chiếm miền Nam. Do đó, sau khi chiếm được miền Nam, Hà Nội phải giao nạp Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.

        Hệ thống Common Law xây dựng nguyên tắc “promissory estoppel” (sự ngăn chận việc làm trái với lời hứa). Theo nguyên tắc này, một lời hứa có giá trị ràng buộc nếu hội đủ các điều kiện sau đây:

(1)    Người hứa (promisor) có thể nghĩ một cách hợp lý rằng người được hứa (promisee)
tin tưởng vào lời hứa đó.

(2)   Trong thực tế người được hứa đã tin cậy vào lời hứa đó (the promisee in fact has   
relied on that promise).

(3)   Sự bất công chỉ có thể tránh được qua việc bắt buộc thực hiện lời hứa (Injustice can  
be avoided only through enforcement of the promise).
       
          Khi ba điều kiện nói trên hội đủ, người hứa phải thực hiện lời hứa của mình, và lời hứa đó được coi như là một hợp đồng (contract), mặc dầu trong thực tế không có một hợp đồng nào được ký kết theo phương thức bình thường.

         Như vậy, dù áp dụng nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente”, trong hệ thống Roman Law hay nguyên tắc “promissory estoppel” trong Common Law, sau khi chiếm được miền Nam, Hà Nội phải giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Bắc Kinh theo công hàm ngày 14.9.1956 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng.

        NHỮNG KHÓ KHĂN GẶP PHẢI

        Như chúng tôi đã trình bày, muốn có quyền sở hữu chấp hữu (possessary title) các hoang đảo trên biển, cần phải hội đủ ít nhất hai yếu tố sau đây:

       (1) Sự chấp hữu phải hoà bình (paisible), tức không có sự đối kháng của bên khác, 

       (2) Sự chấp hữu phải liên tục và không gián đoạn (continue et non interrompue).

      Trung Quốc nói họ đã chấp hữu các đảo trên Biển Đông từ 2000 năm về trước nhưng lại không chứng minh được họ đã chấp hữu liên tục và không gián đoạn.

      Trung Quốc lại dùng vũ lực để chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và 6 đảo thuộc quần đảo Trường Sa năm 1988. Sự chấp hữu này không thể được coi là hòa bình.

      Cho dù công hàm ngày 14.9.1956 có hiệu lực thì cũng chỉ có thể đem đối kháng với Việt Nam mà thôi, không thể đem đối kháng với Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines được. Đây cũng là một lý do khiến Trung Quốc chủ trương chỉ đàm phán song phương.

     Việt Nam đã thật sự chấp hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa kể thừ thời Pháp thuộc cho đến năm 1974, tức hơn 90 năm. Nhưng Việt Nam đã chấp hữu hai quần đảo này dưới họng súng của Pháp và của Mỹ, nên cũng không thể được coi là đã chấp hữu hoà bình.

                                    Bài viết “Công hàm Phạm Văn Đồng”

     Ngày 20.7.2011, báo Đại Đoàn Kết ở trong nước đã cho phổ biến bài “Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam” của nhóm PV Biển Đông. Bài này được các báo chí trong nước đăng lại và phổ biến rộng rãi. Nội dung của bài báo gồm hai điểm chính:

     Trước hết, bài báo phản bác lập luận của Trung Quốc cho rằng bằng công hàm ngày 14.9.1958 chính phủ Việt Nam đã công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Bài báo nói Trung Quốc đã “giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.”

      1.- Bối cảnh thật sự của Hà Nội lúc đó

          Bối cảnh “phức tạp và cấp bách” của Hà Nội lúc đó không phải là các vấn đề của Trung Quốc mà Hà Nội đã nêu ra. Bối cảnh thật sự của Hà Hội lúc đó là cần có viện trợ của Trung Quốc để đánh chiếm miền Nam. Nhưng theo Hà Nội, lúc đó Trung Quốc chủ trương “trường kỳ mai phục”, “tích trữ lương thực” “chờ đợi thời cơ”… chứ không cho đánh liền. Vì thế, Hà Nội phải chấp nhận trao hai quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa cho Trung Quốc để đổi lấy viện trợ đánh chiếm miền Nam.

           Sau khi có sự hứa hẹn của Trung Quốc, tháng 1 năm 1959, Hội Nghị lần thứ 15 của Trung Ương Đảng đã họp và đưa ra quyết định “giải phóng miền Nam”.

          Tài liệu của Trung Quốc cho biết trong chuyến bí mật viếng thắm Bắc Kinh vào tháng 4/1965 cùng với Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn đã nói với Lưu Thiếu Kỳ, đại diện Trung Ương Đảng CSTQ rằng Việt Nam “luôn luôn tin tưởng rằng Trung Quốc là người bạn đáng tin cậy nhất của Việt Nam,” và “sự giúp đỡ của Trung Quốc cho Việt Nam luôn đứng đầu về số lượng cũng như chất lượng.” Lưu Thiếu Kỳ cám ơn Lê Duẩn và nói với Lê Duẩn rằng “chính sách của Đảng Trung Quốc trước sau như một, và Trung Quốc sẽ thỏa mãn tối đa những gì mà mà Việt Nam cần.” Tiếp theo, ngày 16.5.1965, Hồ Chí Minh lại qua Trung Quốc gặp Mao Trạch Đông tại Trường Sa, tỉnh lỵ của tỉnh Hồ Nam, và nói với Mao về những gì Việt Nam cần để có thể gửi người đi chiến đấu tại miền Nam. Mao hứa sẽ cung cấp “bất cứ sự trợ giúp nào mà Việt Nam cần.”
……………………………

    Sau đó, bài báo gián tiếp trả lời bài “Trở lại chuyện bán đất” của chúng tôi phổ biến ngày 13.7.2011, trong đó chúng tôi dựa vào hai luật lý để nói rằng công hàm của Thủ Tướng Văn Đồng có tính cách ràng buộc. Bài báo cho rằng công hàm đó không hội đủ điều kiện để áp dụng thuyết “promissory estoppel” (sự ràng buộc của lời hứa) mà chúng tôi đưa ra.      
      ……………..
       
        4.- Sự ràng buộc của lời hứa

         Đại Đoàn Kết đã lặp lại hai lý do mà chúng tôi đã đưa ra từ lâu để cho rằng Công Hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý.

                  Lý do thứ nhất: Lúc đó hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc VNCH. Tục giao pháp lý Latin có câu: “Nemo dat quod non habet”, tức không ai cho cái mình không có. Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc miền Bắc nên Đảng CSVN không thể giao cho Trung Quốc được.

                  Lý do thứ hai: Điều 23 của Hiến Pháp ngày 9.11.1946 quy định: “Nghị viện nhân dân (tức quốc hội)… chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài.” Công hàm ngày 14.9.1958 không được quốc hội phê chuẩn nên không có giá trị.

          Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu lại luật lý, chúng tôi thấy Công Hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng chỉ là một lời hứa bán (promesse de vente): Hà Nội hứa với Bắc Kinh rằng nếu Bắc Kinh viện trợ cho Hà Nội đầy đủ phương tiện để chiếm miền Nam, sau khi chiếm được, Hà Nội sẽ giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.

          Trong bài “Trở lại chuyện bán đất”, chúng tôi đã đưa ra hai học lý để chứng minh rằng trên một khía cạnh, công hàm ngày 14.9.1958 có thể bị coi như có giá trị cưỡng hành, đó là nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente” (Hứa bán có giá trị như bán) trong hệ thống Roman Law và nguyên tắc “promissory estoppel” (sự ngăn chận việc làm trái với lời hứa) trong Common Law .

          Báo Đại Đoàn Kết nhìn nhận theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”, nhưng cho rằng lời tuyên bố của VNDCCH thiếu 2 điều kiện nên không thể áp dụng thuyết này được, đó là:

           (1)  Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động;

           (2) Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.

           Nếu lý luận kiểu này, Trung Quốc có thể chứng minh dễ dàng hai điều kiện nói trên đã hội đủ:  
                 a/  Dựa vào Công Hàm của Phạm Văn Đồng, Trung Quốc đã viện trợ cho Hà Nội
                      đầy đủ để đánh chiếm Miền Nam và
    
                 b/  Trung Quốc đã bị thiệt hại lớn khi Việt Nam không thực hiện lời hứa sau khi đã
                       chiếm Miền Nam.

Sợ Hà Nội sẽ lật lộng, Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa trước khi Hà Nội chiếm Miền Nam.

          Như vậy, dù áp dụng nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente”, trong hệ thống Roman Law hay nguyên tắc “promissory estoppel” trong Common Law, sau khi chiếm được miền Nam, Hà Nội phải giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Bắc Kinh theo công hàm ngày 14.9.1956 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng.

3/  Tiến sĩ Từ Đặng Minh Thu (Giáo sư Đại học Luật khoa Sorbonne, Pháp)

          “ Tuy nhiên, có tác giả đã nêu thuyết “estoppel” để khẳng định những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam, và Việt Nam bây giờ không có quyền nói ngược lại.
           Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết  “estoppel”.
           Điều 38 Quy chế Toà án Quốc tế không liệt kê những lời tuyên bố đơn phương trong danh sách những nguồn gốc của luật pháp quốc tế.
          Estoppel là một nguyên tắc theo đó một quốc gia không có quyền nói hoặc hoạt động ngược lại với những gì mình đã nói hoặc hoạt động trước kia. Câu tục ngữ thường dùng để định nghĩa nó là “one cannot at the same time blow hot and cold.”  Nhưng thuyết estoppel không có nghĩa là cứ tuyên bố một điều gì đó thì quốc gia tuyên bố phải bị ràng buộc bởi lời tuyên bố đó.
           Thuyết estoppel bắt nguồn từ hệ thống luật quốc nội của Anh, được thâu nhập vào luật quốc tế.
           Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác.
Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính:
1.  Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch (clair et non equivoque).
2.  Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động. Yếu tố này trong luật quốc nội Anh-Mỹ gọi là “reliance”.
3.  Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.
4.  Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và trường kỳ. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”,…
           Ngoài ra, nếu lời tuyên bố đơn phương có tính chất một lời hứa, nghĩa là quốc gia tuyên bố mình sẽ làm hoặc không làm một việc gì, thì quốc gia phải thực sự có ý định muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó, thực sự muốn thi hành lời hứa đó.
          Thuyết estoppel với những điều kiện trên đã được án lệ quốc tế áp dụng rất nhiều. Trong bản án “Thềm lục địa vùng Biển Bắc” giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Đan Mạch/Hà Lan, Toà án quốc tế đã phán quyết rằng estoppel không áp dụng cho Cộng hòa Liên bang Đức, mặc dù quốc gia này đã có những lời tuyên bố trong quá khứ nhằm công nhận nội dung của Công ước Genève 1958 về thềm lục địa, vì Đan Mạch và Hà Lan đã không bị thiệt hại khi dựa vào những lời tuyên bố đó.
           Trong bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua” giữa Nicaragua và Mỹ, Toà đã phán quyết như sau: “… ‘Estoppel’ có thể được suy diễn từ một thái độ, những lời tuyên bố của một quốc gia, nhằm chấp nhận một tình trạng nào đó; thái độ hoặc lời tuyên bố không những phải được phát biểu một cách rõ rệt và liên tục, mà còn phải khiến cho một hoặc nhiều quốc gia khác dựa vào đó mà thay đổi hoạt động, và do đó phải chịu thiệt hại”.[78]
            Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2/ và 3/ đã nêu ở trên.
           Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó. Lúc đó hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa rất thân thiện, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Những lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn do tình hữu nghị Hoa-Việt.
             Hơn nữa, lời văn của bản tuyên bố không hề nói rõ ràng minh bạch là công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa. Bức công hàm chỉ nói: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy (quyết định ấn định lãnh hải 12 dặm của Trung Quốc), và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc…”.
           Lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thể hiểu là một lời hứa đơn phương, một lời tuyên bố ý định sẽ làm một việc gì (declaration d’intention). Thật vậy, đây là một lời hứa sẽ tôn trọng quyết định của Trung Quốc trong việc ấn định lãnh hải của Trung Quốc, và một lời hứa sẽ ra lệnh cho cơ quan công quyền của mình tôn trọng lãnh hải đó của Trung Quốc.
          Một lời hứa thì lại càng khó ràng buộc quốc gia đã hứa.
         Toà án Quốc tế đã ra thêm một điều kiện nữa để ràng buộc một lời hứa: đó là ý chí thực sự của một quốc gia đã hứa. Nghĩa là quốc gia đó có thực sự muốn bị ràng buộc bởi lời hứa của mình hay không.
        Để xác định yếu tố “ý chí” (intention de se lier), Toà xét tất cả những dữ kiện xung quanh lời tuyên bố đó, xem nó đã được phát biểu trong bối cảnh, trong những điều kiện nào (circonstances).
       Hơn nữa, nếu thấy quốc gia đó có thể tự ràng buộc mình bằng cách ký thoả ước với quốc gia kia, thì lời tuyên bố đó là thừa, và Toà sẽ kết luận là quốc gia phát biểu không thực tình có ý muốn bị ràng buộc khi phát biểu lời tuyên bố đó. Vì vậy, lời tuyên bố đó không có tính chất ràng buộc.
      Trong bản án “Những cuộc thí nghiệm nguyên tử” giữa Úc/Tân Tây Lan và Pháp, Pháp đã tuyên bố là sẽ ngừng thí nghiệm nguyên tử. Toà án đã phán quyết rằng Pháp bị ràng buộc bởi lời hứa vì Pháp thực sự có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó.
      Trong trường hợp Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi tuyên bố sẽ tôn trọng lãnh hải của Trung Quốc, không hề có ý định nói đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa.
      Ông đã phát biểu những lời tuyên bố trên trong tình trạng khẩn trương, chiến tranh với Mỹ bắt đầu leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe doạ Trung Quốc. Ông đã phải lập tức lên tiếng để ủng hộ Trung Quốc nhằm gây một lực lượng chống đối lại với mối đe doạ của Mỹ.
         Lời tuyên bố năm 1965 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như vậy. Động lực của lời tuyên bố đó là tình trạng khẩn trương, nguy ngập ở Việt Nam. Đây là những lời tuyên bố có tính chính trị, chứ không phải pháp lý.
          Nếu xét yếu tố liên tục và trường kỳ thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không hội đủ tiêu chuẩn này.
          Estoppel chỉ đặt ra nếu chấp nhận giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một;  và cả Pháp trong thời kỳ thuộc địa, và Việt Nam Cộng hoà trước năm 1975 cũng là một đối với Việt Nam hiện thời.
         Nếu xem như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia riêng biệt với Việt Nam hiện thời, thì estoppel không áp dụng, vì như đã nói ở trên, lời tuyên bố sẽ được xem như lời tuyên bố của một quốc gia không có quyền kiểm soát trên lãnh thổ tranh chấp.
        Như vậy, nếu xem Việt Nam nói chung như một chủ thể duy nhất từ xưa đến nay, thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một sự phát biểu có ý nghĩa chính trị trong đoản kỳ thời chiến, so với lập trường và thái độ của Việt Nam nói chung từ thế kỷ XVII đến nay.
      Tóm lại, những lời tuyên bố mà chúng ta đang phân tích thiếu nhiều yếu tố để có thể áp dụng thuyết estoppel.
      Yếu tố “reliance” (tức là quốc gia kia có dựa vào lời tuyên bố của quốc gia này mà bị thiệt hại), và yếu tố “ý chí” (tức là quốc gia phát biểu lời hứa có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó) rất quan trọng.
       Không có “reliance” để giới hạn sự áp dụng của estoppel thì các quốc gia sẽ bị cản trở trong việc hoạch định chính sách ngoại giao. Các quốc gia sẽ phải tự ép buộc cố thủ trong những chính sách ngoại giao lỗi thời. Khi điều kiện chung quanh thay đổi, chính sách ngoại giao của quốc gia kia thay đổi, thì chính sách ngoại giao của quốc gia này cũng phải thay đổi. Các quốc gia đổi bạn thành thù và đổi thù thành bạn là chuyện thường.
       Còn những lời hứa đơn phương trong đó quốc gia không thật tình có ý muốn bị ràng buộc, thì nó chẳng khác gì những lời hứa vô tội vạ, những lời hứa suông của các chính khách, các ứng cử viên trong cuộc tranh cử.
       Trong môi trường quốc tế, nguyên tắc “chủ quyền quốc gia” (état souverain) rất quan trọng.
       Ngoại trừ tục lệ quốc tế và những điều luật của Jus Congens, không có luật nào ràng buộc quốc gia ngoài ý muốn của mình, khi mà quốc gia này không gây thiệt hại cho quốc gia nào khác.
           Vì vậy ý chí của quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định tính chất ràng buộc của một lời hứa đơn phương”.
……………………..
           “Những lời tuyên bố trên không có hiệu lực vì trước năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không quản lý những đảo này. Lúc đó, những đảo này nằm dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng hoà; mà các chính phủ Việt Nam Cộng hoà luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo.” Và
         “…đứng trên phương diện thuần pháp lý, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hoà và Philippin. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp.”
…………

          “Ngày nay theo luật quốc tế, sự chiếm hữu lãnh thổ phải bao gồm cả hai yếu tố vật chất và tinh thần.

·         Yếu tố vật chất được thể hiện qua việc chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền trên lãnh thổ đó. Điều này có nghĩa là quốc gia chiếm hữu phải có sự hiện diện thường trực trên lãnh thổ được chiếm hữu, và phải có những hoạt động hoặc những hành vi có tính quốc gia đối với lãnh thổ đó. Sự hành xử chủ quyền phải có tính liên tục.

·         Còn yếu tố tinh thần có nghĩa là quốc gia phải có ý định thực sự chiếm hữu mảnh đất đó.

Phải hội đủ hai yếu tố vật chất và tinh thần trên thì sự chiếm hữu mới có hiệu lực.

Và sự từ bỏ lãnh thổ cũng phải hội đủ cả hai yếu tố: vật chất, tức là không hành xử chủ quyền trong một thời gian dài, và tinh thần, tức là có ý muốn từ bỏ mảnh đất đó.

Phải hội đủ cả hai yếu tố:  từ bỏ vật chất  và  từ bỏ tinh thần  thì lãnh thổ đó mới được xem như bị từ bỏ, và trở lại quy chế vô chủ”.

Phúc Linh

                                         Phần VI
                            Phân tích sự kiện

Trước hết, xin điểm qua định nghĩa của một số từ ngữ:
Lãnh thổ là gì? Lãnh thổ là đất đai thuộc chủ quyền của một nước.
Nội thủy là gì? Nội thủy là  vùng nước biển nằm giữa đất liền và đường cơ sở
Lãnh hải là gì?  Lãnh hải hoặc hải phận 12 hải lý,  là vùng biển ven bờ nằm kế tiếp vùng nước nội thủy.
Lãnh hải và lãnh thổ là hai phần riêng biệt, có thể tạm so sánh như mảnh đất và những căn nhà nằm trên mảnh đất đó, có những trường hợp chủ nhà cũng là chủ đất, chủ đất cũng là chủ nhà, nhưng cũng có  những trường hợp chủ nhà không phải là chủ đất, và chủ đất không phải là chủ nhà, cũng có trường hợp nhiều căn nhà thuộc nhiều chủ khác nhau và nằm trên cùng một mảnh đất . Trước pháp lý, chủ quyền sẽ được định rõ.
Vùng tiếp giáp lãnh hải là gì? Vùng biển kế tiếp lãnh hải 12 hải lý là vùng tiếp giáp lãnh hải, cũng có chiều rộng 12 hải lý. Quốc gia chủ quyền vẫn có chủ quyền trong vùng này về kiểm soát tàu có nghi vấn nhập cư bất hợp pháp và buôn lậu.
Như vậy, mỗi quốc gia  có quyền kiểm soát an ninh trong phạm vi 24 hải lý tính từ đường cơ sở .
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/9c/Zonmar_vi.svg/300px-Zonmar_vi.svg.pngĐường cơ sở là gì? Những người ở ven biển biết rõ nước biển sẽ từ từ rút ra xa bờ vào buổi chiều, đến đêm, mực nước biển sẽ xuống mức thấp nhất, sau đó, mực nước biển bắt đầu lên trở lại.
Chỗ mức nước biển xuống thấp nhất, gọi là “đường cơ sở” được mỗi quốc gia theo dõi nhiều năm liên tục để qui định đường cơ sở cho chính xác.
Đường cơ sở không phải là  đường thẳng vì bờ biển không phải là đường thẳng, mà là đường cong, có chỗ lồi ra, có chỗ lõm vào. Mọi sự đo đạc vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia  đều bắt đầu được tính từ đường cơ sở.
Ví dụ Lãnh  hải 12 hải lý của mỗi quốc gia, không phải được đo đạc từ vùng đất liền của bờ biển, mà bắt đầu tính từ đường cơ sở hoặc 200 hải lý không phải tính từ đường cơ sở của hải đảo, mà tính từ dường cơ sở của lãnh thổ đất liền .
Kính thưa quí vị,



Công hàm là một văn kiện ngoại giao.

Theo thủ  tục qui định hiện tại của Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao CSVN, người dân phải làm thủ tục xin Công hàm của Bộ Ngoại giao để  “xin thị thực nhập cảnh nước đến”.  Căn cứ vào đề nghị của bản Công hàm mà Tòa Đại sứ của nước đến sẽ cứu xét đơn xin thị thực nhập cảnh và có thẩm quyền  chấp thuận hoặc từ chối cấp chiếu khán thị thực nhập cảnh mặc dù có Công hàm của Việt Nam yêu cầu.  Do đó, một bản Công hàm chỉ có giá trị tương đối.

I/ CSVN không có tư cách và thẩm quyền

Những người gọi bản Công hàm ngày 14/09/1958 là  “bản Công hàm bán nước” vì bản Công hàm đó là chứng cớ CSVN bán đã bán Hoàng Sa – Trường Sa cho Trung Cộng.

Khi quí vị nói bản Công hàm có ý nghĩa chấp nhận toàn văn bản Quyết Nghị ngày 04/09/1958 của Quốc vụ viện Trung Cộng, phải chăng quí vị muốn nói là CSVN đã chấp nhận Đài loan (Trung hoa quốc gia), vùng biển đường Lưỡi bò chiếm 80% diện tích Biển Đông, và các quần đảo Tây Sa – quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa.. tất cả đều thuộc chủ quyền của Trung Cộng???

Trung Hoa quốc gia chỉ là một hòn đảo, nhưng đã được quốc tế công nhận là một quốc gia riêng biệt với Trung Cộng.  Xin hỏi quí vị ông Phạm Văn Đồng – với bản Công hàm ngày 14/09/1958 - có tư cách và thẩm quyền xác nhận Trung Hoa quốc gia là thuộc chủ quyền của Trung Cộng hay không?

Quần đảo Đông Sa là mục tiêu tranh giành của Trung Cộng và Trung hoa quốc gia.  Xin hỏi quí vị ông Phạm Văn Đồng – với bản Công hàm ngày 14/09/1958 - có tư cách và thẩm quyền xác nhận  quần đảo Đông Sa  là thuộc chủ quyền của Trung Cộng hay không?

Quần đảo Trung Sa là mục tiêu tranh chấp chủ quyền của 04 quốc gia gồm Trung Cộng, Đài Loan, Phi luật tân và Việt Nam. Xin hỏi quí vị ông Phạm Văn Đồng – với bản Công hàm ngày 14/09/1958 - có tư cách và thẩm quyền xác nhận quần đảo Trung Sa là thuộc chủ quyền của Trung Cộng hay không?

Và câu trả  lời là CSVN  không  có tư cách  và thẩm quyền xác nhận những điều như trên, nói khác đi, suy nghĩ cho rằng bản Công hàm đó đã xác nhận lãnh thổ Hoàng Sa – Trường Sa thuộc  Trung Cộng là quá đáng.

Nguyên tắc căn bản là trong các văn kiện ngoại giao và pháp lý, văn bản phải được hiểu và phải được giải thích theo nghĩa hẹp.

Từ ngữ “theo nghiã hẹp”  khác với “theo nghĩa rộng”. “theo nghiã hẹp”  nghĩa là văn bản đã được viết ra như thế nào, thì phải hiểu  trong giới hạn ý nghĩa của từng chữ  đó mà thôi, không được suy diễn và giải thích nới rộng ý nghĩa của những từ ngữ đó.
Nguyên văn lời xác nhận như sau “Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định về hải phận của Trung quốc và triệt để  tôn trọng hải phận 12 hải lý  của Trung quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung hoa   trên mặt bể”.
Và  cũng dựa trên nguyên tắc “Giải thích theo nghĩa hẹp”  mà  Giáo sư Luật trường Đại học Sorbonne Từ Đặng Minh Thu viết : “ lời văn của bản tuyên bố không hề nói rõ ràng minh bạch là công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa. Bức công hàm chỉ nói: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy (quyết định ấn định lãnh hải 12 dặm của Trung Quốc), và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc…”.
Và tiến sĩ Balazs Szalontai viết “ Dẫu vậy, ông ấy có vẻ đủ thận trọng để đưa ra một tuyên bố ủng hộ nguyên tắc rằng Trung Quốc có chủ quyền đối với hải phận 12 hải lý dọc lãnh thổ của họ, nhưng tránh đưa ra định nghĩa về lãnh thổ này. Mặc dù tuyên bố trước đó của Trung Quốc rất cụ thể, nhắc đến toàn bộ các đảo bao gồm Trường Sa và Hoàng Sa mà Bắc Kinh nói họ có chủ quyền, thì tuyên bố của Bắc Việt không nói chữ nào về lãnh hải cụ thể được áp dụng với quy tắc này”.


II/ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một

         Giáo sư Tiến sĩ Luật Từ Đặng Minh Thu đã gợi ý rằng:
         “ Estoppel chỉ đặt ra nếu chấp nhận giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một;  và cả Pháp trong thời kỳ thuộc địa, và Việt Nam Cộng hoà trước năm 1975 cũng là một đối với Việt Nam hiện thời.
         Nếu xem như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia riêng biệt với Việt Nam hiện thời, thì estoppel không áp dụng,  lời tuyên bố sẽ được xem như lời tuyên bố của một quốc gia không có quyền kiểm soát trên lãnh thổ tranh chấp.
        Nếu xem Việt Nam nói chung như một chủ thể duy nhất từ xưa đến nay, thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một sự phát biểu có ý nghĩa chính trị trong đoản kỳ thời chiến, so với lập trường và thái độ của Việt Nam nói chung từ thế kỷ XVII đến nay”.   
Với gọi ý này, nếu nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là sự nối tiếp liên tục của nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa, thì bản Công hàm và những tuyên bố của phía CSVN chĩ là lời nói chính trị mang tính chất ngoại giao, không có hiệu lực pháp lý ràng buộc CSVN có trách nhiệm về lời nói của mình.
Vì vậy, với ý đồ trên, CSVN đã bật đèn xanh để cơ quan truyền thông trong nước cũng như người dân làm rình rang việc tuyên dương hải quân VNCH đã chiến đấu với Trung Cộng và cho phép người dân trong nước làm lễ truy điệu những chiến sĩ hải quân VNCH đã anh dũng hy sinh tánh mạng đền nợ nước.
Điều này chỉ là một chiêu bài chính trị của CSVN lợi dụng danh nghĩa những anh linh chiến sĩ hải  quân đã vị quốc vong thân, và chỉ làm trong giai đoạn này, vì hành vi này dẫn đến hậu quả có ý nghĩa chính trị quốc tế:
A/  Làm cho quốc tế hiểu rằng Hoàng Sa – Trường Sa thuộc quyền quản trị của Việt Nam Cộng hòa xưa kia, VNCH là quốc gia thực sự có trách nhiệm bảo vệ, có bổn phận lên tiếng trước dư luận quốc tế về Hoàng Sa – Trường Sa, và chính phủ VNCH  đã luôn khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam, quân đội VNCH đã anh dũng hy sinh để bảo vệ lãnh thổ.
Những gì mà chính phủ VNCH đã làm để bảo vệ Hoàng Sa – Trường Sa, đã bao che (bao yểm)  cho sự im hơi lặng tiếng của CSVN trong suốt thời kỳ chiến tranh Nam – Bắc. 
B/  Và sau khi chiếm được miền Nam, CSVN lại nối tiếp việc làm của chính phủ VNCH, tiếp tục khẳng định chủ quyền quốc gia Việt Nam đối với Hoàng Sa – Trường Sa.
CSVN muốn quốc tế hiều rằng  trong suốt chiều dài lịch sử từ xưa cho đến nay, Việt Nam luôn xác định chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam.  Việt Nam chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa này.
                                                       “ Trích”

 BÁO ĐẠI ĐOÀN KẾT, CƠ QUAN TW MTTQ THUỘC ĐẢNG CSVN "TÔN VINH CÁC CHIẾN SĨ VNCH"

  Trận hải chiến bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974 (04/07/2011)

Sau khi quân Pháp rút khỏi Đông Dương, theo Hiệp định Genève 1954, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đảm nhiệm chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa cho đến khi Trung Quốc xâm chiếm bằng vũ lực ngày 19-1-1974. Trận hải chiến bảo vệ quần đảo Hoàng Sa năm 1974 của Hải quân VNCH là một bằng chứng lịch sử rõ ràng cho thấy Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế khi sử dụng vũ lực để cưỡng chiếm Hoàng Sa từ tay VNCH đang thực thi chủ quyền lâu đời của Việt Nam theo luật pháp quốc tế và việc liên tục thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này là một hiển nhiên trong lịch sử.
Sơ đồ trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974
Trên thực tế khi ra tiếp quản quần đảo Hoàng Sa tháng 4-1956 từ quân đội Pháp, Hải quân VNCH phát hiện Trung Quốc đã bí mật chiếm đóng trái phép các đảo phía đông của quần đảo này. Kể từ đó cho đến khi diễn ra trận hải chiến 1974, vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam không còn bình yên truớc những diễn biến làm phức tạp tình hình từ phía Trung Quốc.
Từ năm 1956, Hải quân VNCH đã phát hiện ngư dân Trung Quốc nhiều lần xâm nhập trái phép các đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa do chính quyền VNCH quản lý. Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973, chấm dứt mọi sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Hạm đội 7- Thái Bình Dương của Hoa Kỳ cũng rút quân và các thiết bị ra khỏi vùng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Kể từ đó, các hoạt động xâm nhập trái phép của Trung Quốc lên các đảo trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam ngày càng gia tăng.

Để mở đầu cho kế hoạch gây chiến và đánh chiếm, ngày 11-1-1974 Trung Quốc đột ngột ra Tuyên bố phản đối việc chính quyền VNCH 4 tháng trước điều chỉnh sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy của Việt Nam và nhắc lại yêu sách vô lý của họ về chủ quyền trên toàn bộ các đảo và quần đảo ở Biển Đông, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa).
Ngay lập tức, ngày 12-1-1974, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc của chính quyền VNCH ra Tuyên bố bác bỏ yêu sách vô lý của Trung Quốc về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 16-1-1974, chính quyền VNCH tiếp tục ra Tuyên bố với những bằng chứng rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử minh chứng chủ quyền lâu dài và liên tục của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Cũng trong ngày 16-1-1974, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) khi đưa một phái đoàn ra quần đảo Hoàng Sa để khảo sát xây dựng sân bay thì phát hiện hai chiến hạm của Trung Quốc gần đảo Cam Tuyền và quân Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép, cắm cờ Trung Quốc tại các đảo Quang Hòa, Duy Mộng, Vĩnh Lạc...
Nhận được tin báo khẩn cấp, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH điều thêm chiến hạm ra quần đảo Hoàng Sa để ngăn chặn các hoạt động xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên vùng biển này của tàu chiến Trung Quốc với thái độ ôn hòa, kiềm chế. Cùng lúc đó, Trung Quốc cũng đã điều động một lực lượng tàu chiến hùng hậu tiến về phía quần đảo Hoàng Sa, trong đó có nhiều tàu đánh cá vũ trang và đổ bộ lên một số đảo trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam để cắm cờ.
Một số tàu cá vũ trang của Trung Quốc còn bám theo các chiến hạm của Hải quân VNCH đang trên đường ra Hoàng Sa, cản trở hành trình của các tàu Việt Nam bằng những hành động khiêu khích.
Bốn chiến hạm của Hải quân VNCH đã tham dự trận hải chiến Hoàng Sa bảo vệ chủ quyền của Việt Nam năm 1974 (HQ-4, HQ-5, HQ-10, HQ-16)
Ngày 17-1-1974, khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) đổ bộ một toán biệt hải lên đảo Vĩnh Lạc để nhổ cờ Trung Quốc. Toán đổ bộ còn phát hiện một số ngôi mộ giả mới đắp không hề có xương cốt với những tấm bia gỗ ghi chữ Trung Quốc với ngày sinh và ngày chết hàng mấy chục năm về trước.
Theo các nhân chứng, đêm 17 rạng sáng ngày 18-1-1974 là một đêm cực kỳ căng thẳng. Trung Quốc tăng cường lực lượng và cố tình gia tăng sự khiêu khích, các chiến hạm của họ bắt đầu tiến sâu vào vùng biển quần đảo Hoàng Sa.
Các tàu chiến của Hải quân VNCH liên tục ra tín hiệu cảnh báo: "Đây là lãnh hải Việt Nam, yêu cầu các ông hãy rời khỏi đây ngay”. Phía Trung Quốc cũng ra sức đáp trả và cho rằng quần đảo Hoàng Sa là "lãnh hải” của Trung Quốc, họ lì lợm không rút lui theo yêu cầu và cảnh báo ôn hòa từ phía Việt Nam.
Ngày 18-1-1974, chiến hạm HQ-4 tiến về phía đảo Cam Tuyền, đổ bộ một toán biệt hải lên đảo lúc 8 giờ sáng. Sau khi hạ cờ Trung Quốc, toán đổ bộ phát hiện những ngôi mộ giả do phía Trung Quốc mới đắp giống như trên đảo Vĩnh Lạc hôm trước. Đến 11giờ cùng ngày, nhận được tin báo có hai tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc đang xâm nhập trái phép và tiến về quần đảo Hoàng Sa, các tàu HQ-4 và HQ-16 của Hải quân VNCH ra ngăn chặn, dùng tín hiệu cảnh cáo và yêu cầu các tàu xâm nhập trái phép ngay lập tức phải rút ra khỏi vùng biển Việt Nam. Nhưng hai tàu cá vũ trang của Trung Quốc không chấp hành hiệu lệnh và cố tình khiêu khích, gây hấn. Tàu HQ-4 tiến thẳng đến gần một tàu cá Trung Quốc, nhìn thấy rõ thủy thủ đoàn trên tàu mặc đồng phục xanh dương đậm, có trang bị 2 súng đại liên và rất nhiều súng tiểu liên cá nhân. Tàu HQ-4 quyết định áp sát mạn tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc để xua đuổi và dùng loa phóng thanh hết cỡ yêu cầu họ ngay lập tức rút khỏi vùng biển Việt Nam. Phía Trung Quốc cũng ra sức đáp trả bằng những lời lẽ khiêu khích và gây hấn. Thấy không tác dụng, tàu HQ-4 dùng mũi ủi vào tàu Trung Quốc. Trước thái độ cương quyết của Hải quân VNCH họ vội vàng tháo lui. Chiến hạm HQ-16 cũng quyết liệt tham gia xua đuổi tiếp các tàu cá vũ trang còn lại của Trung Quốc trong khu vực này.
Buổi chiều cùng ngày, 3 chiến hạm của VNCH bao gồm tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4), tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) được lệnh sắp đội hình hàng dọc tiến về đảo Duy Mộng.
Khoảng 16giờ cùng ngày, có hai tàu chiến của Trung Quốc tiến ra khiêu khích, cắt đường ngang mũi các tàu HQ-4 và HQ-16. Do đội hình bị chia cắt, tàu của VNCH không thể tiến lên được, khoảng cách của hai bên rất gần nhau, các khẩu đại bác trong tư thế sẵn sàng chiến đấu nhưng các tàu của VNCH được lệnh phải hết sức kiềm chế và phải cố gắng hết sức để thuyết phục phía Trung Quốc lui quân.

Đêm 18 rạng sáng 19-1-1974, tàu chiến và tàu đánh cá Trung Quốc vẫn tiếp tục gia tăng khiêu khích và ngày càng tiến đến gần quần đảo Hoàng Sa. Tàu HQ-4 phải dùng còi hơi thật to và đèn hồ quang thật sáng trên nóc đài chỉ huy rọi thẳng vào đội hình tàu Trung Quốc. Đến nửa đêm, hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) trong khi đang bị hỏng một máy chính chưa kịp sửa chữa, đã nhận lệnh ra Hoàng Sa tham gia đội hình chiến đấu. Khoảng 6 giờ sáng ngày 19-1-1974, Tàu HQ-4 đã tiến sát đảo Quang Hòa và trung đội biệt hải được lệnh đổ bộ khẩn cấp lên đảo.
Theo ông Lữ Công Bảy, nguyên là thượng sỹ giám lộ có mặt trên chiến hạm HQ-4 trong trận hải chiến 1974, từ đài chỉ huy bằng ống nhòm, tàu HQ-4 đã phát hiện doanh trại mới toanh, có cột cờ Trung Quốc (trước đó hơn một tháng tàu HQ-4 có dịp khảo sát đảo này không hề thấy), như vậy Trung Quốc đã bí mật chiếm đảo mới đây.
Đài chỉ huy đồng thời phát hiện một tàu Trung Quốc đang đổ bộ một đội quân rất đông lên phía bắc đảo, những chiếc tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc liên tục đổ người ào ạt lên các đảo của Việt Nam. Và họ đã nổ súng trước. Vào lúc 8 giờ 30 phút, một loạt đại liên và cối 82 của Trung Quốc đã bắn vào đội hình người nhái Việt Nam làm hai binh sỹ tử vong và hai bị thương. Nhưng chỉ huy phía Việt Nam vẫn không thể ra lệnh cho các tàu nổ súng vì đội hình người nhái Việt Nam đang ở vị trí cực kỳ nguy hiểm. Cùng lúc đó, xuất hiện hai chiếc tàu Kronstadt của Trung Quốc mang số hiệu 274 và 271 sơn màu xám đen, trang bị đại bác 100 ly và nhiều đại bác 37 ly ngay bên cạnh tàu HQ-4. Các họng súng đại bác của tàu Trung Quốc đều đang chĩa thẳng vào tàu HQ-4. Các tín hiệu bằng đèn cực kỳ khiêu khích của tàu Trung Quốc liên tục được chuyển tới tàu HQ-4. Khoảng 10 giờ, hai trục lôi hạm Trung Quốc mang số 389 và 396 bắt đầu tách khỏi hai chiếc 274 và 271, chạy song song gần nhau và bất chợt cùng quay mũi trực chỉ HQ-10. Vẫn chưa có lệnh khai hỏa từ phía VNCH. Các tàu chiến của Trung Quốc từ từ tiến gần đội hình của VNCH, còn cách tàu HQ-10 chỉ khoảng 200 mét, tình hình hết sức căng thẳng. Khoảng 10 giờ 25 phút, bốn chiến hạm của Hải quân VNCH được lệnh nổ súng để tự vệ trước sự gia tăng gây hấn, khiêu khích và xâm chiếm trái phép ngày càng quyết liệt hơn của Trung Quốc.
Những phát đạn đầu tiên của HQ-10 trúng ngay vào chiếc 389 của Trung Quốc làm nó bốc cháy, cùng lúc tàu HQ-16 cũng bắn thẳng vào chiếc 386 làm cho đài chỉ huy bị trúng đạn, hỏng hệ thống điều khiển bánh lái khiến nó cứ xoay vòng. Đang chiếm ưu thế, bất chợt khẩu 76,2 ly trên tàu HQ-10 bị trục trặc, thêm vào đó HQ-10 chỉ còn một máy chính nên xoay trở rất chậm trở thành mục tiêu dễ dàng của đối phương. Lợi dụng sự bất lợi đó, chiếc 389 đã tấn công tới tấp và HQ-10 trúng đạn. Không bỏ lỡ cơ hội, chiếc 389 của Trung Quốc tiến đến gần phía sau lái của HQ-10, nhưng bị các binh sỹ trên tàu HQ-10 chống trả dữ dội và điều khiển tàu đâm vào phần sau lái của chiếc 389, khiến chiếc này hư hỏng nặng và bị loại khỏi vòng chiến. Đây cũng là lý do khiến chiếc 396 phải ngưng chiến đấu với tàu HQ-16 để cấp tốc ứng cứu chiếc 389 và đưa chiếc này ủi lên bãi san hô để tránh bị chìm xuống biển. Tình trạng của tàu HQ-10 lúc này rất bi đát, hơn 70% chiến sỹ đã tử trận kể cả hạm trưởng. Các tàu Trung Quốc phản kích dữ đội. Cùng lúc đó Trung Quốc tung xuống một lực lượng rất mạnh từ đảo Phú Lâm ở gần đó và từ căn cứ ở đảo Hải Nam. Các chiến sỹ còn trụ lại trên tàu HQ-10 đang bốc cháy vẫn tiếp tục nổ súng vào các tàu Trung Quốc, thu hút hỏa lực cho các đồng đội khác rút lui cho đến khi chìm hẳn xuống lòng Biển Đông của Tổ quốc.
Sau khoảng hơn 45 phút giao chiến, theo tài liệu của Trung Quốc có các tàu của Trung Quốc mang số hiệu 274, 271, 389, 391 trúng đạn hư hỏng nặng; 281, 282 và 402, 407 hư hại trung bình.
Theo tài liệu của VNCH, hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) trúng đạn bị chìm, HQ-16 bị hư hại nặng, HQ-4 và HQ-5 bị hư hại nhẹ. VNCH có hơn 50 binh sỹ tử trận. Trung Quốc bắt giữ 48 binh sỹ VNCH và một người Mỹ, sau đó trao trả cho Việt Nam và Hoa Kỳ tại Hồng Kông.
Hình ảnh chiếc trục lôi hạm 389 của Trung Quốc
bị loại khỏi vòng chiến phải ủi vào bãi san hô để không bị chìm
Ngay sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa, chính quyền VNCH liên tục phát ra nhiều Tuyên bố phản đối hành động "xâm lăng trắng trợn bằng quân sự” này của Trung Quốc và tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này.

Trong khi đó, ngày 26-1-1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN) cũng ra Tuyên bố phản đối hành động xâm chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc và công bố lập trường "về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Chính phủ CMLTCHMNVN cũng đã nhiều lần tuyên bố khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam. Ngày 5-6-1976, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Chính phủ CMLTCHMNVN đã lên tiếng bác bỏ các thông tin xuyên tạc về Hoàng Sa và Trường Sa và khẳng định hai quần đảo này là thuộc chủ quyền Việt Nam, từ trước đến nay luôn do người Việt Nam quản lý.

Nhóm PV Biển Đông
                                                      “Hết trích”
Thực vậy, đây chỉ là sự lợi dụng vì lý do chính trị mà thôi, Đảng và nhà cầm quyền CSVN chưa bao giờ tỏ lòng trân trọng và đối xử có tình người đối với quân nhân miền Nam, còn sống cũng như đã chết, vì nếu có lòng, họ đã có một chính sách tốt  đối với các thương phế binh VNCH, các quân nhân VNCH mất tích trong chiến tranh, trùng tu các nghĩa trang quân đội VNCH…
Bằng chứng lả chính phủ Hoa Kỳ - thông qua cơ quan Viện trợ quốc tế Hoa Kỳ (United State Agency for International Development viết tắt là  USAID)  cấp ngân khoản  nhân đạo 1.000.000 (1 triệu) Mỹ kim cho nhà cầm quyền CSVN để tài trợ công việc tìm kiếm quân nhân mất tích của cả hai miền Nam – Bắc trong cuộc nội chiến Việt Nam,  nhưng  nhà cầm quyền CSVN đã từ chối công việc tìm kiếm quân nhân VNCH bị mất tích.

                                                              “Trích”

Ông Jim Webb đòi ngưng chương trình tìm kiếm quân nhân tử trận trong chiến tranh Việt Nam

Thanh Phương

Theo nhật báo The Virginian-Pilot, ngày 22/09/11, thượng nghị sĩ Jim Webb đã yêu cầu Cơ quan Viện trợ Quốc tế của Mỹ ( USAID ) ngưng thực hiện chương trình 1 triệu  Mỹ kim cho đến khi nào được bảo đảm là tiền tài trợ được sử dụng để tìm thi hài của binh sĩ của cả hai bên Cộng sản và Quốc gia.

Trong bản tuyên bố, thượng nghị sĩ Jim Webb viết : « Dự án này phải bảo đảm xử lý công bằng đối với các quân nhân mất tích thuộc quân đội Bắc Việt, lực lượng Việt Cộng và quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Thế mà, theo những thông tin mà văn phòng tôi có được, các cuộc thảo luận giữa cơ quan USAID với chính phủ Việt Nam cho thấy là các binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa không được tính trong số binh sĩ mất tích và như vậy là sẽ không nằm trong dự án này ».
Ông Jim Webb, hiện là chủ tịch tiểu ban Đông Á Thái Bình Dương của Uỷ ban Ngoại giao Thượng viện Mỹ, nhắc lại : luật thông qua chương trình nói trên có ghi rõ là tiền tài trợ phải sử dụng để nhận dạng thi hài quân nhân tử trận của cả hai bên.
Các giới chức Việt Nam cho biết họ muốn nhận dạng khoảng 650.000 binh sĩ Bắc Việt và quân Việt Cộng, hiện được chôn trong các nghĩa trang hoặc còn được xem là mất tích. Nhưng theo thượng nghị sĩ Jim Webb, chính phủ Hà Nội cũng cần phải tìm thi hài những binh sĩ miền Nam từng chiến đấu bên cạnh quân đội Mỹ, mà hiện chưa biết con số là bao nhiêu.
Ông Jim Webb còn nhắc lại là Nghĩa trang An Bình, tức nghĩa trang quân đội Biên Hòa trước đây, hiện bị bỏ hoang phế và cần phải được tu bổ lại.
Khi được hỏi về yêu cầu của thượng nghị sĩ Jim Webb, một phát ngôn viên của cơ quan USAID khẳng định là họ sẽ « tìm kiếm và nhận dạng thi hài quân nhân của cả hai bên trong cuộc chiến, để giúp đóng lại vết thương của hàng triệu gia đình Việt Nam cho tới nay vẫn không biết về số phận của người thân bị mất tích ».
                                                 “Hết trích”

III/  Mua bán Hoàng Sa – Trường Sa giữa Trung Cộng và CSVN ??? 

Khi một sự kiện xảy ra, mỗi người hiểu theo một cách,  dựa vào kiến thức qua kinh nghiệm trường đời,  qua trình độ học vấn, qua  nhận  thức của mỗi người, qua tổng hợp và phân tích các nguồn tin khác nhau …cho nên các cụ ta mới có câu rằng “Năm người mười ý” và mỗi người đều có quyền bảo lưu ý kiến của mình cho tới khi tìm ra được câu giải đáp đúng.

Trước hết, sau khi đọc toàn văn  bức Công hàm “chết tiệt” của ông cố Thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng,  cũng như  sự kiện Thứ trưởng Ngoại giao CSVN Ung Văn Khiêm nói với vị Quyền Đại Sứ Trung quốc tại Bắc Việt, Li Zhimin  rằng “Theo những dữ kiện của Việt Nam thì quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa  là một bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc”,  và trích đoạn dưới đây:
“Tài liệu của Trung Quốc cho biết trong chuyến bí mật viếng thăm Bắc Kinh vào tháng 4/1965 cùng với Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn đã nói với Lưu Thiếu Kỳ, đại diện Trung Ương Đảng CSTQ rằng Việt Nam “luôn luôn tin tưởng rằng Trung Quốc là người bạn đáng tin cậy nhất của Việt Nam,” và “sự giúp đỡ của Trung Quốc cho Việt Nam luôn đứng đầu về số lượng cũng như chất lượng.” Lưu Thiếu Kỳ cám ơn Lê Duẩn và nói với Lê Duẩn rằng “chính sách của Đảng Trung Quốc trước sau như một, và Trung Quốc sẽ thỏa mãn tối đa những gì mà mà Việt Nam cần.” Tiếp theo, ngày 16.5.1965, Hồ Chí Minh lại qua Trung Quốc gặp Mao Trạch Đông tại Trường Sa, tỉnh lỵ của tỉnh Hồ Nam, và nói với Mao về những gì Việt Nam cần để có thể gửi người đi chiến đấu tại miền Nam. Mao hứa sẽ cung cấp “bất cứ sự trợ giúp nào mà Việt Nam cần.”

Kính thưa quí vị,

Nếu chỉ có những dữ kiện trên đây là chứng cớ của việc mua bán hải đảo, lãnh thổ Việt Nam,  thú thực, tôi đã cố gắng tìm hiểu,  nhưng cũng không tìm thấy một chút xíu nào mối liên hệ nhân quả, từ những dữ kiện nêu trên lại dẫn đến việc mua và bán biển đảo Hoàng Sa - Trường Sa của Việt Nam cho Trung Cộng.

Thật sự, dù có trí tưởng tượng phong phú đến mấy đi nữa,  chúng tôi cũng không thể hiểu được đó là một sự mua bán lănh thổ quốc gia.

Tại sao vậy?

Bởi v́ qua nghiên cứu  tài liệu về chủ nghĩa Cộng sản, về nghĩa vụ quốc tế vô sản, th́ những sự giúp đỡ của các quốc gia khối Cộng sản thời xa xưa Liên Xô – Trung Cộng – Tiệp Khắc – Bắc Hàn – Cu Ba.. cũng chỉ là nghĩa vụ quốc tế, chủ trương của khối Cộng,  CSVN được hưởng sự trợ giúp, với nhiệm vụ thi hành nghiã vụ của quốc tế Cộng sản giao phó, đó là nhuộm đỏ Đông Dương, dùng Đông Dương làm bàn đạp phổ biến chủ nghĩa Cộng sản và xâm lăng các quốc gia khác trong khu vực. 

IV/  Quốc hội có thẩm quyền phê chuẩn hoặc “thông qua” Công hàm ???

Hiến pháp của mọi quốc gia – Tự do cũng như Cộng sản – đều qui định rằng một trong những thẩm quyền của quốc hội là phê chuẩn các hiệp ước quốc tế, đại diện toàn dân quyết định về lãnh hải – lãnh thổ của quốc gia.

Không có một bản Hiến pháp nào trên thế giới qui định thẩm quyền của quốc hội là phê chuẩn hoặc “thông qua” bản Công hàm.

Cho nên, nếu như quốc hội CSVN vào thời điểm năm 1958 mà có lỡ dại phê chuẩn Công hàm thì cũng không có giá trị pháp lý nào cả, vì Quốc hội không có thẩm quyền này. 


V/  Nguyên lý Promissory estoppel  là gì ???

Một số người cho rằng thuở xa xưa, CSVN đã hứa hẹn việc mua bán, hoặc hiến tặng hoặc trao đổi  lãnh thổ, lãnh hải Hoàng Sa - Trường Sa cho Trung Cộng để nhận lấy viện trợ quân sự và kinh tế xâm lược miền Nam, được chứng minh bằng những dữ kiện trên,  theo kiều “Có đi có lại mới toại lòng nhau”, còn được gọi là “Bánh ít đi, bánh qui lại”,  nhưng sau khi đạt được thành quả như ý muốn là “giải phóng”  miền Nam vào tháng 4/1975,  CSVN lại ngược ngạo chối bỏ những hứa hẹn đó, phủ nhận những gì mình đã cam kết, đã hứa hẹn trong quá khứ, làm cho Trung quốc bị thiệt thòi tiền của, công sức bao nhiêu năm viện trợ cho CSVN trong chiến tranh Nam – Bắc Việt Nam  …nên đã viện dẫn học thuyết Promissory estoppel để bảo vệ “lẽ phải và công bình” cho Trung quốc.  

Giả dụ rằng chúng tôi đồng ý lập luận của học thuyết Promissory estoppel,  thì xin hỏi chúng ta có thể áp dụng luật Promissory Estoppel trong trường hợp bản Công hàm của ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề ngày 14/09/1958 được không?


Trước hết, chúng ta nên tìm hiểu nguyên lý “Promissory estoppel”  là gì?  Điều kiện cần và đủ là như thế nào ?  thì mới có thể áp dụng được trong trường hợp đó.

Trong cuộc sống của người Việt, trong cũng như ngoài nước, ta vẫn nghe câu nói “Lỡ đặt niềm tin lầm đối tượng” đến nỗi mất cả chì lẫn chài, đã xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, trong  nhiều tình huống, chẳng hạn tình cảm nam nữ, mua bán, hùn hạp, vay mượn … để rồi bị người ta lừa gạt,  người bị thiệt  thòi chỉ biết ngậm đắng nuốt cay, âm thầm rơi lệ, tự trách bản thân mình, rồi cũng tự an ủi điều xui xẻo bằng số mệnh do ông Trời an bài, người đời biết chuyện cũng chỉ có thể cảm thương cho người nhẹ dạ, vì quá tin người mà phải chịu thiệt hại cho bản thân, cho tài sản…
Cũng vì tấm lòng chân thật, chỉ  vì kẻ xảo trá kia nói hay quá, hứa hẹn tài quá,  những người thật thà, tưởng ai cũng có lòng tốt như mình, làm sao mà không tin cho được, nhưng nếu bắt người thật thà, ngay thẳng phải chịu thiệt thòi thì thật là quá bất công, còn đâu là lẽ phải, nên để bảo vệ nạn nhân trong trường hợp này, luật pháp đặt ra qui luật buộc người đã hứa, đã cam kết phải giữ vững lời hứa, phải thi hành lời hứa, để bảo vệ có sự công bình,  luật này gọi là Promissory estoppel.
Nguyên bản của luật Promissory estoppel xác định đây là luật về  “Hợp đồng – Khế ước – Giao kèo” (Contract),  nhưng là loại hợp đồng – khế ước – giao kèo không được viết thành văn bản, mà là hợp đồng – khế ước – giao kèo bất thành văn, tức là giao kèo miệng, hợp đồng miệng, nôm na gọi là  lời hứa, lời nói miệng với nhau,  bởi vì nếu đã có  hợp đồng hoặc giao kèo - khế ước viết rõ ràng, các bên ký kết hoặc Tòa án sẻ căn cứ vào sự thỏa thuận với nhau trên văn bản mà giải quyết, không cần đến luật Promissory estoppels làm gì.
Một ví dụ của loại hợp đồng mua – bán bất thành văn dễ hiểu nhất là khi quí vị đi chợ, mua hàng và ra quầy tính tiền để trả tiền, sau khi trả tiền xong, quí vị đã hoàn thành hợp đồng mua – bán hàng hóa vào lúc đó, bởi vì một bên đã giao hàng và một bên đã trả tiền.
Nhưng hợp đồng mua- bán chưa chấm dứt ở đó, vì hai bên, bên  mua phải bảo đảm là đã trả bằng tiền thật, không phải là tiền giả, còn bên bán phải bảo đảm hàng đó không phải đã bị  thiu thối, nghĩa là sự mua bán phải cụ thể, rõ ràng, ai cũng nhìn thấy, ai cũng hiểu được.
Nguyên lý  Promissory estoppel do thẩm phán Denning nghĩ ra trong vụ kiện nổi tiếng vào năm 1947 tại Anh, vụ kiện The high Tree  (is established by Lord Denning in a well-known case: the high tree case in 1947).
Promissory estoppel gồm có hai từ ngữ ghép lại với nhau là “Promise” là “Lời hứa” và “Estoppel” là “Ngăn chận sự nuốt lời” hoặc “ Ngăn chận sự chối bỏ lời đã nói, đã hứa”.
Estoppel được giải thích:
“Estoppel” is a legal rule of evidence (and not a cause of action) which:
 (1) prevents a party from making an allegation or denial that contradicts what it had previously stated, or what has been legally established, as the truth,
(2) supports a claim for damages of the party that had a good-faith reliance on a misleading representation of another party
Xin tạm dịch:
Từ ngữ “Estoppel”  là quy luật  pháp lý về  chứng cớ (và không phải là một nguyên nhân làm ra hành động):

(1)    Nhằm ngăn chặn một bên đưa ra một luận điệu hoặc lời từ chối  trái ngược hẳn  với những gì  đã được nói trước  đó, hoặc những gì đã được người ta hoàn thành hợp pháp, vì  những lời nói trước đó đã được người ta đánh giá là sự thật.

(2)    Nhằm hỗ trợ  cho việc khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại của bên ngay tình , vì  đã  đặt niềm tin vào những điều giả dối của phía bên kia  mà họ phải  gánh chịu thua thiệt.
Hiểu một cách đơn giản, “Estoppel” có nhiều ý nghiã  “Sự ràng buộc của lời hứa” hoặc  “Ngăn chận sự nuốt lời” hoặc “Không phản bội lời hứa, không phủ nhận lời mình đã nói, thì mới có sự công bằng”, do đó, ngay trong từ ngữ “ Promissory estoppel”  đã bày tỏ được ý nghĩa và hai điều kiện mở đầu của nguyên lý này là :
1/ Phải có một lời hứa.
2/ Người đã nói ra lời hứa không được phản bội lời hứa của mình để bảo vệ lẽ phải
Luật pháp các quốc gia giống nhau ở quan điểm cho rằng  phản bội lại lời hứa,  chối bỏ những lời mình đã nói, hoặc không thực hiện lời đã hứa, không thực hiện lời mình đã nói,  dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho người khác,  là không phù hợp với lẽ công bằng và được đồng hóa với  sự gian trá.
Và được dẫn gỉải như sau:
Promissory Estoppel:  when a person makes a false statement to another and the listener relies on what was told to him/her in good faith and to his/her disadvantage.
Nguyên lý “Sự ràng buộc của lời hứa” hoặc “Trách nhiệm đối với lời hứa” là khi một người nói những lời giả dối, nhưng lại làm cho  người nghe những lời giả dối đó, tin tưởng hết lòng, và kết quả làm người đó bị thiệt thòi vì đã đặt niềm tin lầm đối tượng.

Promissory Estoppel is an important doctrine in contract law in which a non contractual promise lacking consideration rendered enforceable to avoid an injustice

Nguyên lý “Trách nhiệm đối với lời hứa” là một nguyên tắc quan trọng trong luật hợp đồng, trong đó lời hứa hẹn không được làm bằng văn bản hợp đồng và phải được cưỡng bách thực hiện lời hứa đó mới tránh được sự bất công

Estoppel is closely related to the doctrines of waiver, variation, and election and is applied in many areas of law, including insurance, banking, employment, international trade, etc
Nguyên lý  “Bảo vệ lời hứa” có  liên quan đến học thuyết về  sự khước từ,  sự thay đổi, và  bầu cử và được áp dụng trong nhiều lĩnh vực pháp luật, bao gồm cả bảo hiểm, ngân hàng, nhân công, mậu dịch quốc tế…
In order to see that justice is done a court will treat the statement as a promise, and in a trial the judge will preclude the maker of the statement from denying it. Thus, the legal inability of the person who made the false statement to deny it makes it an enforceable promise called "promissory estoppel," or an "equitable estoppel."
Để thực thi công lý,  tòa án sẽ  đồng hóa lời nói  như một lời hứa, và trong khi xét xử, thẩm phán sẽ ngăn chận không để cho người phát biểu lời nói đó được chối bỏ lời đã nói. Vì vậy, để vô hiệu hóa hành vi của người đã nói lời gian dối,  chỉ còn  cách cưỡng bách họ thực hiện lời nói của mình, sự kiện này được gọi là "không phản bội lời hứa để tránh gây thiệt hai cho người khác” hoặc “không phản bội lời hứa để bảo vệ sự công bằng”

Promissory Estoppel is a “bargained for exchange.” In other words, consideration is present in a contract when both parties exchange promises. One party promises to do something in reliance on the other party’s promise to something.
Học thuyết “Bảo vệ lời hứa”  là một sự "trả giá trong việc trao đổi." Nói cách khác, giá cả được thỏa thuận  trong hợp đồng khi cả hai bên cam kết với nhau. Một bên hứa hẹn sẽ làm một cái gì đó vì đặt niềm tin vào lời hứa của phía bên kia về một điều gì đó.

Here's an example:
Let's say you had a big tree in your front yard that fell over in a windstorm, and now the tree is blocking part of your street.
Someone from the city comes out and orders you to get that portion of the tree that is blocking the street out of the way by Monday, or you'll be fined $500.00 for every day that tree is blocking the street.
Your  neighbor overhears the conversation and says "Hey, I'll come over this weekend with my chain saw and cut the tree up so you can haul the stuff in the street out of the way."
Well, the weekend passes and your neighbor never comes out to cut up the tree, so now you're facing $500.00 a day in fines, plus the fee to have a tree removal service come out and cut up the tree.

You decide to take your neighbor to small claims court, and you're suing for the cost of the fines and the fees to have the tree removed.
Your  neighbor, who has consulted a lawyer buddy of his, tells the judge that the promise could not be legally enforced because you didn't offer or promise any consideration for services rendered; therefore there was no contract.
Under the doctrine of promissory estoppel, you could prevail in this case because:
 (a) your neighbor made you a promise,
 (b) your neighbor should have reasonably expected you to rely on that promise,
 (c) you actually DID reasonably rely on that promise, and
 (d) you suffered a personal detriment -- financial damages -- as a result of relying on that promise that your neighbor did not fulfill.
Dưới đây là một ví dụ:

Hãy nói rằng vì gió bão cái cây lớn trồng ở sân trước của nhà bạn bị gãy đổ  nằm chặn ngang một phần của đường lộ. 

Một nhân viên hữu trách của thành phố đến và báo cho biết rằng bạn phải dọn dẹp phần  cây đổ ra khỏi con đường lộ, mọi việc phải hoàn tất trước ngày thứ Hai,  nếu không, bạn sẽ bị phạt  500 Mỹ kim/ngày cho mỗi ngày chậm trễ.

Người hàng xóm của bạn nghe được câu chuyện và nói: "Này, cuối tuần này tôi sẽ lấy cái cưa máy để cắt cây và dọn dẹp đường xá dùm cho bạn".

Giời ạ! Những ngày cuối tuần qua đi, nhưng người láng giềng của bạn đã  không ra cưa cây dùm cho bạn, vì vậy, bây giờ bạn phải trả tiền mướn cơ quan dịch vụ cưa cây và dọn dẹp đường phố, cộng thêm phải trả tiền phạt  500 Mỹ kim mỗi ngày trễ hạn không dọn dẹp mặt đường lộ.

Bạn quyết định kiện người hàng xóm  ra tòa xử vụ kiện nhỏ, và bạn kiện đòi người hàng xóm phải bồi hoàn thiệt hại mà bạn đã phải trả tiền phạt cùng với lệ phí trả cho cơ quan dịch vụ dọn dẹp đường lộ

Người láng giểng của bạn  tham khảo ý kiến ​với ​một người bạn luật sư của ông, đã trình bày với vị thẩm phán rằng ông ấy là người đã đưa ra đề nghị đó, nhưng bạn lại không có hành động tương xứng đáp trả là một cái giá cả xứng đáng với công sức của ông ta sẽ phải bỏ ra để làm công việc đó.  Do đó, giữa hai bên không có sự kết ước nào cả, nên lời hứa đó không thể bị cưỡng bách  thi hành.

Theo học thuyết của Promissory Estoppel,   bạn có thể thắng vụ kiện này bởi vì:

(a) Người hàng xóm của bạn đã phát biểu một lời hứa,

 (b) Người hàng xóm của bạn đã làm cho bạn tin tưởng vào lời hứa đó,

 (c) Bạn thực sự có hành động hợp lý đã không làm gì cả dựa vào lời hứa đó, và

 (d) Vì người hàng xóm có lỗi không chịu thực hiện lời hứa, bạn đã phải gánh chịu thiệt hại cho bản thân - thiệt hại về tiền bạc – là hậu quả của sự tin tưởng vào  lời hứa của người hàng xóm.

Qua ví dụ trên, nguyên tắc căn bản của luật Promissory estoppel như sau:
Promissory Estoppel has four necessary elements which the plaintiff must prove:
·         there was a promise that was clear and definite
·         the promisee justifiably relied on the promise
·         the promisee suffered a significant loss on the basis of the promise.
·         enforcing the promise will serve the best interests of justice.
Xin tạm dịch:  Có bốn  (04)  yếu tố cần thiết mà phía nguyên đơn cần phải chứng minh khi áp dụng điều khoản về Promissory estoppel:
·         Phải có một lời hứa,  lời hứa đó phải rõ ràng và xác định được
·         Lời hứa đó phải đáng tin cậy để người được hứa hẹn tin tưởng 
·         Việc không thực hiện lời hứa gây hậu qủa làm thiệt hại cho người được hứa hẹn
·         Công lý đòi hỏi phải cưỡng bách  thực hiện lời hứa mới  có được sự công bằng

Khi một lời hứa hoặc một lời nói được đánh giá là ” clear and definite “, có nghĩa là lời nói hoặc lời hứa phải thật sự rõ ràng, minh bạch,  người khác nghe câu chuyện không cần phải suy diễn, không cần phải tưởng tượng, không cần phải được người ta giải thích lòng vòng, quanh co,  mới có thể hiểu được đó là một lời hứa, một hợp đồng, một giao kèo miệng.
Để diễn giải cho dễ hiểu,  mấu chốt của học thuyết Promissory estoppel là ba điều kiện chính:
A/ Phải có một lời hứa của một cá nhân hoặc một cơ quan có đủ tư cách và thẩm quyền để phát biểu bằng lời nói hoặc một sự hứa hẹn,  một sự cam kết…và lời hứa, lời nói  phải rõ ràng
B/ Lời hứa đó phải có đủ  tín lực để phía bên kia tin tưỏng mà kết ước.
C/ Nếu bên đã cam kết hoặc hứa hẹn không thực hiện lời hứa hoặc lời cam kết khi có đủ điều kiện thực hiện,  bên kia phải gánh chịu thiệt hại vì sự thất hứa đó.
Tại Hoa Kỳ, nguyên lý Promissory Estoppel được áp dụng cụ thể:
Promissory estoppel allows a party to recover on a promise even though that promise was made without consideration
Promissory estoppel cho phép một bên được bồi hoàn lại những thiệt hại vì lòng tin vào lời hứa của phiá bên kia, mặc dù lời hứa đã nói ra nhưng không được phía bên kia trả lại tương xứng (Consideration : có đi có lại)

Chapter 130: Promissory Estoppel

M Civ JI 130.01  Promissory Estoppel

The plaintiff claims that the defendant is liable to (him/her) based on promissory estoppel. To establish this claim, the plaintiff has the burden of proving each of the following elements:
  1. The defendant made a promise to the plaintiff that was clear and definite.
  2. When the promise was made, the defendant knew or should reasonably have expected that this promise would induce the plaintiff to take/refrain from some action.
  3. The plaintiff did take / refrain from some action in reliance on the promise.
  4. The plaintiff was damaged as a result of (his/her) reliance.
Nguyên đơn nại rằng bị cáo phải chịu trách nhiệm về lời hứa đối với họ dựa trên luật promissory estoppel. Để khiếu nại được hữu hiệu, nguyên đơn có trách nhiệm chứng minh các yếu tố sau:
a.      Bị cáo đã có một lời hứa rõ ràng và xác định với nguyên đơn.
b.      Khi lời hứa đã được nói ra rồi, bị cáo đã biết hoặc đáng lẽ phải có dự kiến ​​rằng điều hứa hẹn của họ sẽ làm cho nguyên đơn làm một điều gì, hoặc không làm điều gì cả.
c.       Vì tin vào lời hứa, nguyên đơn đã làm hoặc không làm điều gì đó.
d.      Nguyên đơn đã bị thiệt hại vì đã đặt niềm tin vào lời hứa đó
VI/  Vận dụng luật Promissory estoppel vào vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa
Đối với giao dịch của các quốc gia trong cộng đồng quốc tế,  mục đích chính của học thuyết Promissory estoppel  nhằm mục đích ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể  gây thiệt hại cho quốc gia khác vì hành vi hoặc thái độ “nuốt lời” của mình.
Vận dụng nguyên lý Promissory estoppel trong bang giao quốc tế, cũng phải hội đủ ba (03) điều kiện chính:
1.      Lời tuyên bố hoặc lời hứa phải do một người có thẩm quyền phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch

2.      Quốc gia nại “Promissory estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động.

3.      Quốc gia nại “Promissory estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.

Dưới đây, chúng ta cần xác định những  yếu tố cần thiết khi áp dụng điều khoản về Promissory Estoppel vào trường hợp bản Công hàm ngày 14/09/1958, từ cơ sở này, mới có kết luận hợp lý:
1/  Lời tuyên bố hoặc lời hứa phải do một người có thẩm quyền và tư cách đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch

Câu hỏi :  Ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng có phải là người có tư cách và thẩm quyền ĐƠN PHƯƠNG nói ra những lời hứa, lời cam kết, hoặc viết Công hàm quyết định việc mua - bán, hoặc hiến tặng, hoặc trao đổi hoặc tương nhượng…lãnh thổ và lãnh hải của đất nước hay không?

Trả lời : Mặc dù là một vị Thủ  tướng chính phủ, nhưng ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại  không có tư cách và thẩm quyền ĐƠN PHƯƠNG quyết định việc mua - bán, hoặc hiến tặng, hoặc trao đổi hoặc tương nhượng…lãnh thổ và lãnh hải của đất nước bằng bất cứ hình thức nào.


Câu hỏi: Ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu lời lẽ nào một cách rõ ràng, minh bạch hoặc bản Công hàm có lời lẽ nào xác định minh bạch, cụ thể rằng bản Công hàm là văn tự mua – bán Hoàng Sa – Trường Sa giữa Việt Nam – Trung quốc và sẽ có hiệu lực trong tương lai, sau ngày “giải phóng” miền Nam hay không?

Trả lời:  Không có.

2. Quốc gia nại “Promissory Estoppel” phải chứng minh rằng lời hứa hẹn, lời tuyên bố của quốc gia kia có đủ tín lực hay không.


Câu hỏi :  Trung Cộng có thực sự tin vào bản Công hàm và những sự kiện khác mà tin cậy (Reliance) Việt Nam sẽ giao Hoàng Sa – Trường Sa cho Trung Cộng, để từ cơ sở này, Trung Cộng đã thực hiện sự chi viện cho CSVN xâm lược miền Nam hay không?

Trả lời : Mặc dù là một vị Thủ  tướng chính phủ, là người có thẩm quyền viết Công hàm, nhưng ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại  không có tư cách và thẩm quyền đơn phương tự quyết định việc mua - bán, hoặc hiến tặng, hoặc trao đổi hoặc tương nhượng…lãnh thổ và lãnh hải của đất nước mình cho một quốc gia khác, bằng hình thức của Công hàm – Quyết định ..,

Thẩm quyền này thuộc về toàn dân, mà Quốc hội là cơ quan đại diện, theo qui định của Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 được áp dụng vào thời  điểm năm 1958:

Điều thứ 32 :  Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý. Cách thức phúc quyết sẽ do luật định.

Vì lý do này, giả dụ rằng Hổ Chí Minh - Phạm Văn Đồng toa rập với nhau để bán – trao đổi – dâng hiến lãnh thổ của đất nước  cho Trung Cộng, cũng là hành vi vô thẩm quyền, là lạm quyền,  nên hành vi đó trở thành vô giá trị.

4.     Quốc gia nại “Promissory estoppel” phải chứng minh đã bị thiệt hại vì dựa vào lời tuyên bố hoặc lời hứa của quốc gia kia,  hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.

Giả dụ rằng hai nước Việt Nam – Trung quốc thỏa thuận cho trọng tài quốc tế hoặc Tòa án quốc tế viện dẫn học thuyết Promissory Estoppel để giải quyết tranh chấp, thì câu hỏi sẽ là:

Câu hỏi : Khi Việt Nam không thực hiện lời “cam kết” giao nộp  hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng, xin hỏi Trung Cộng sẽ bị thiệt  thòi quyền lợi như nào?

Trả lời :   Trung quốc không bị thiệt thòi gì cả. Tại sao?

Lý do rất đơn giản, cả về tỉnh cũng như về lý:

              1/ Về tình :  Trung Cộng – từ trước chiến tranh xâm lược miền Nam cho đến khi chiến tranh kết thúc ngày 30/04/1975 - chưa bao giờ là chủ nhân thực sự của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đó.

Chưa quốc gia nào được quốc tế công nhận có chủ quyền trên hai quần đảo này. Cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn đang trong vòng tranh chấp chủ quyền lãnh thổ của 06 quốc gia.

             2/ Về lý : Hội nghị hoà bình quốc tế  gồm 51 quốc gia tham dự họp tại San Francisco, vào ngày 8/9/1951 bác bỏ chủ quyền của Trung Cộng về Trường Sa – Hoàng Sa với 46 phiếu chống và 3 phiếu thuận.

            Ngược lại, với tư cách là Trưởng phái đoàn Việt Nam thời Quốc trưởng Bảo Đại tham gia hội nghị San Francisco,  ông cố Thủ Tướng Trần Văn Hữu đã  phát biểu vào ngày 07/09/1951 lời công bố chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Công bố này đã không bị sự phản kháng nào của các quốc gia tham dự Hội nghị. Đây là chứng cớ quốc tế về pháp lý mà Trung Cộng không thể phủ nhận.
           Và Trung Cộng cũng đã từ chối mọi đề nghị của các bên tương tranh,  cũng như ý kiến của những quốc gia đúng ngoài tranh chấp,  đề nghị đưa vấn đề tranh chấp ra thảo luận trong một cuộc hội thảo quốc tế,  hoặc được phân xử bởi trọng tài quốc tế,  hoặc tòa án quốc tế, bởi vì:
         1/  Trong những tranh cãi về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,  Trung quốc có viện dẫn chứng cớ, nhưng chứng cớ không đủ mạnh về phương diện lịch sử và pháp lý.
         2/  Suốt thời gian qua, chúng tôi đã cố gắng truy lục tài liệu trên các diễn đàn, trong các văn kiện ngoại giao của Bộ Ngoại giao Việt Nam, nhưng thấy rằng Trung quốc chưa viện dẫn nguyên tắc luật Promissory Estoppel để xác nhận chủ quyền của Trung quốc trên hải đảo Hoàng Sa – Trường Sa nhằm:
                   a/  bảo vệ quyển lợi của mình, gạt bỏ mọi lý luận của phía Việt Nam,
                   b/  nhằm kết thúc tranh cãi chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với Việt Nam, là chứng cớ “cột chặt cái trách nhiệm”  ông Phạm Văn Đồng đã nhân danh và đại diện chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác nhận Hoàng Sa – Trường Sa  là của Trung quốc hoặc bán Hoàng Sa – Trường Sa  cho Trung quốc.
              Trung quốc chưa nêu nguyên lý Promissory estoppel ra, tại sao người Việt hải ngoại phải ra công,  ra sức,  lý luận này, lập luận kia,  để đánh gục những lý lẽ bảo vệ lãnh thổ  của tổ  quốc Việt Nam,   bảo vệ dùm cho Trung Cộng được phần thắng lấy mất lãnh thổ Hoàng Sa – Trường Sa của chúng ta ???
              Cũng vì ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có thẩm quyền quyết định việc mua bán hoặc hiến tặng, hoặc trao đổi…lãnh thổ và lãnh hải của đất nước với quốc gia khác, nên bản Công Hàm ngày 14/09/1958 hoàn toàn vô giá trị về pháp lý,  riêng về phương diện lãnh thổ hai khu vực quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.

              Bản Công hàm này chỉ có giá trị về mặt hành chánh là chỉ thị cho các cơ quan dưới quyền tôn trọng quyết định của Trung quốc nới rộng vùng lãnh hải từ 03 hải lý thành 12 hải lý trên mặt bể, mà thôi.

               Với lý lẽ này, ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không phải là người có tư cách và thẩm quyền để hứa hẹn,  như đòi hỏi của luật Promissory Estoppel, nên dù cho quí vị cố bảo vệ lý lẽ của luật Promissory estoppel cũng không thể áp dụng được.

Muốn phân chia, đổi chác, mua bán lãnh thổ, vùng biển của đất nước, chính phủ hai quốc gia phải tiến hành đàm phán nhiều năm, sau khi hiệp ước được ký kết, còn phải thông qua Quốc hội phê chuẩn, một thủ tục xác nhận toàm dân chấp nhận bản hiệp ước đó, sau đó, hiệp ước mới phát sinh hiệu lực vào ngày được ấn định.

Một bản Công hàm viết đơn giản như vậy làm sao có giá trị mua bán hoặc dâng hiến…. lãnh thổ của tổ quốc được?
Chúng minh cụ thể :   Mọi người đều rõ Trung Cộng “xâm chiếm” lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam thông qua hình thức của hai bản hiệp ước, đó là:
A/  “Hiệp ước về biên giới trên đất liền”  ký ngày 30/12/1999 được Viêt Nam – Trung Cộng bắt đầu đàm phán từ năm 1993, sau 09 năm thương thảo, kết quả đã  làm cho Việt Nam bị mất Ải Nam quan và 2/3 thác Bản Giốc, được Quốc hội Trung Cộng phê chuẩn 29/04/2000 và Quốc hội Việt Nam phê chuẩn ngày 9/06/2000  và
B/  “Hiệp ước phân  định lãnh hải” được hai bên Việt Nam – Trung Cộng đàm phán từ năm 1973 và sau 17 năm thương thảo, được ký kết ngày 25/12/2000,  làm Việt Nam bị mất khoảng 10 Km2 vùng biển trong Vịnh Bắc Việt.

Vì vậy, những cuộc biểu tình với lý do chống bản Công hàm bán nước ngày 14/09/1958 thì về khía cạnh pháp lý cho thấy  cái văn tự  Công hàm này, chẳng bán được cái gì cho ai cả.


VII/   Viện trợ của quốc tế Cộng sản để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản

Nếu trong bang giao quốc tế của các quốc gia khối tự do,  chúng ta thường nghe nói đến các loại viện trợ quân sự, nhân đạo, kinh tế thuộc loại “Viện trợ có hoàn lại” và “ Viện trợ không hoàn lại” thì các quốc gia khối Cộng cũng giúp đỡ lẫn nhau giống như vậy.
Khi tìm hiểu vấn đề bản Công hàm ngày 14/09/1954 liên quan đến liên hệ Việt Nam – Trung Cộng và Việt Nam với các quốc gia trong khối Cộng sản trước thời gian Liên Sô sụp đổ vào năm 1991, nói khác đi, phải tìm hiểu quan hệ bang giao quốc tế trong phạm vi khối Cộng đặt trên nền tảng nào.  Đó là  tinh thần quốc tế vô sản,  là sự đoàn kết của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản trên toàn thế giới.

                                                              “Trích”
Viện trợ của quốc tế vô sản (Liên Sô – Trung Cộng – Tiệp khắc – Ba Lan) cho miền Bắc Việt Nam.
“Theo bản tin của BBC.com ngày 10-5-2006
Một buổi hội thảo qui mô tổng kết cuộc chiến tranh Việt Nam đã được tổ chức tại Sài Gòn trong hai ngày 14 và 15 tháng 4 năm 2006, cuộc hội thảo tập hợp nhiều tham luận của các sử gia và tướng lãnh trong quân đội Bắc Việt. Trong số các bài đọc ở hội thảo, tác giả Trần Tiến Hoạt và Lê Quang Lạng thuộc Viện Lịch Sử Quân Sự Cộng Sản Việt Nam có bài tham luận về nguồn chi viện của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa dành cho miền Bắc trong cuộc chiến.
Tham luận ghi nhận trong 21 năm chiến đấu, Việt Nam “đã nhận được sự ủng hộ chí nghĩa, chí tình của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới , đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em.”

Bài viết thống kê những con số về vũ khí, đạn dược và trang bị kỹ thuật mà khối xã hội chủ nghĩa đã viện trợ. Khối lượng hàng quân sự Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN viện trợ từ năm 1955 đến 1975 qua từng giai đoạn, như sau:

Giai đoạn 1955-1960: Tổng số 49,585 tấn gồm : 4,105 tấn hàng hậu cần, 45,480 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật trong đó Liên Xô viện trợ 29,996 tấn, Trung Quốc viện trợ 19,589 tấn.

Giai đoạn 1961-1964: Tổng số 70,295 tấn gồm 230 tấn hàng hậu cần, 70,065 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật, trong đó Liên Xô: 47,223 tấn: Trung Quốc 22,982 tấn, các nước XHCN khác 442 tấn.

Giai đoạn 1965-1968: Tổng số 517,393 tấn, gồm 105,614 tấn hàng hậu cần và 411,779 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật, trong đó Liên Xô 226,969 tấn, Trung Quốc 170,798 tấn , các nước xã hội chủ nghĩa khác 119,626 tấn.

Giai đoạn 1969-1972: Tổng số 1,000,796 tấn gồm 316,130 tấn hàng hậu cần, 684,666 tấn hàng vũ khí, trang bị kỹ thuật trong đó Liên Xô :143,793 tấn, Trung Quốc 761,001 tấn , các nước xã hội chủ nghĩa khác 96,002 tấn.

Giai đoạn 1973-1975: Tổng số 724,512 tấn gồm 75,267 tấn hàng hậu cần , 649,246 tấn vũ khí trang bị kỹ thuật, trong đó Liên Xô: 65,601 tấn, Trung Quốc 620,354 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác : 38,557 tấn.

Tính tổng cộng qua 20 năm, theo thống kê chính thức của Việt Nam, số viện trợ mà Việt Nam nhận được là 2,362,581 tấn hàng hoá, khối lượng hàng hóa qui đổi thành tiền tương đương 7 tỷ Rúp ( tiền Nga)”

                                                     “Hết trích”

Một bài viết của tác giả Lê Công Truyền có tựa đề “ Thực chất cuộc chiến Việt Nam 1955 – 1975”, như sau:

                                                         “Trích”

“Vai trò “thừa ủy nhiệm” của Miền Bắc đã được chính ông HCM công  khai xác nhận: “Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một thành viên trong đại gia đình Xã Hội Chủ Nghĩa, đứng đầu là Liên xô vỉ đại. Chúng ta có nhiệm vụ giữ vững vị trí tiền đồn của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á và trên thế giới” (18). Trong “Hồ Chí Minh Toàn Tập”, HCM viết rõ hơn: “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lénine và Quốc Tế 3 là một đảng cộng sản thế giới. Các đảng cộng sản ở các nước, như là chi bộ, đều phải tuân theo kế hoạch và qui tắc chung. Việc gì chưa có lệnh và kế hoạch của Quốc Tế 3 thì các Đảng không được làm.” Ông HCM cũng đã từng xác nhận trong “Lịch Sử Đảng Cộng sản Việt Nam” (Tập I):
“Chúng ta theo chủ nghĩa Quốc tế, không theo chủ nghĩa quốc gia. Chúng ta phải nâng cao tinh thần đấu tranh giải phóng, nghĩa là hình thức thì dân tộc mà nội dung là Quốc tế”. Nơi trang 32, HCM viết tiếp: “Nhận chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản để giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ”.
Trong một bài nói chuyện nội bộ, Tổng bí thư đảng CSVN Lê Duẩn, đã xác quyết: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa” . Như thế không gọi là đánh thuê thì phải gọi là gì? Đánh mướn chăng?
Sau khi cưởng chiếm Miền Nam xong, Lê Duẫn tuyên bố: “Chúng ta đã cắm ngọn cờ Mác Lê bách chiến bách thắng trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Điều đó có nghĩa là “chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ do Quốc Tế 3 ủy nhiệm”!
Nói tóm lại, cuộc chiến 1955-1975 tại Việt Nam là một thứ chiến tranh ủy nhiệm đối với Miền Bắc: Miền Bắc nhận lịnh hay thừa ủy nhiệm ĐTQT tấn chiếm Miền Nam để làm bàn đạp thôn tính cả vùng Đông Nam Á hầu bành trướng ĐQCS”
……….
Sau khi cướp chính quyền ở lục địa Trung Hoa, Mao sớm hiểu rõ khái niệm “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của Liên Xô chỉ là cái bánh vẽ. Mao thấy được âm mưu của Liên Xô dựa vào khối XHCN để trở thành một đế quốc mới. Do đó, Mao không ngần ngại vứt khái niệm “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của Lenin vào sọt rác, quay ra chống lại Liên Xô và tố cáo Liên Xô theo chủ nghĩa Sô-vanh nước lớn để áp chế các nước nhỏ. Mâu thuẫn giữa hai nước đàn anh XHCN đã đưa đến những đụng độ biên giới đẫm máu từ 1959 và kéo dài cho đến ngày tàn của Liên Xô năm 1991.
Trường hợp của Đảng CSVN và Trung Quốc cũng là một bài học đáng để ý.
Trong thời gian tranh chấp giữa Trung Quốc và Liên Xô, do nhu cầu tiếp nhận viện trợ của cả Liên Xô và Trung Quốc để phục vụ chiến tranh nên Đảng CSVN phải cố gắng đi dây giữa hai lằn đạn, thân thiện với cả hai bên cho đến khi chiến tranh chấm dứt.
Sau năm 1975, Đảng CSVN quyết định đi hẳn vào quĩ đạo Liên Xô và quay mặt chống Trung Quốc. Hậu quả là Việt Nam bị sa lầy vào chiến trường Campuchia khi Trung Quốc gia tăng viện trợ cho Pol Pot để chống lại tập đoàn Hunsen do Việt Nam bảo hộ. Đồng thời Trung Quốc mở cuộc chiến biên giới Việt-Trung năm 1979, để dạy cho Đảng CSVN một bài học về thái độ phản trắc của Việt Nam”.
                                                     “Hết trích”
Phúc Linh
                                                Phần VII
                                          Kết  luận

Mấu chốt của sự vô giá trị của bản Công hàm ngày 14/09/1958 do ông cố Thủ tướng Việt Cộng Phạm Văn Đồng gửi cho ông cố Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai là ở chỗ nào?

1/  Nguyên lý Promissory estoppel không áp dụng được vào trường hợp của bức Công hàm ngày 14/09/1958  vì thiếu yếu tố “Lời tuyên bố hoặc lời hứa phải do một người có thẩm quyền và tư cách đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách rõ ràng và minh bạch”  việc mua – bán hoặc hiến – tặng hoặc trao đổi.. lãnh thổ Hoàng Sa – Trường Sa để nhận viện trợ kinh tế và quân sự của Trung Cộng trong chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam,

2/  Hiến pháp và luật pháp mọi quốc gia, Tự do cũng như Cộng sản, KHÔNG  ban thẩm quyền cho Quốc trưởng - Tổng thống - Thủ tướng chính phủ,  được quyền tự mình quyết  định việc mua bán – tương nhượng…. lãnh thổ, biển đảo của đất nước.

Ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có thẩm quyền tự  mình quyết định việc mua bán hoặc hiến tặng hoặc trao đổi…lãnh thổ và lãnh hải của đất nước,  nghĩa là trên bình diện quốc tế, lời nói hoặc bản Công hàm của một ông Thủ tướng chính phủ,  không có chút xíu “tín lực” nào để quốc gia khác đặt niềm tin rằng ông Thủ tướng một quốc gia có quyền tự mình bán hoặc hiến tặng lãnh thổ - biển đảo của đất nước.

Nên giả dụ rằng bản Công hàm ngày 14/09/1958 là một “văn tự bán nước”  như một số lý luận của vài cá nhân thì cũng vô giá trị, chỉ là “Gửi gió cho mây ngàn bay” mà thôi, từ cơ sở này,  những lời xác nhận của nhân viên chính phủ, viên chức ngoại giao, chẳng hạn lời nói của Ung Văn Khiêm về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung quốc,  cũng không sinh hiệu lực pháp lý nào, chẳng có nghĩa lý gì cả. 

Nguyên lý Promissory estoppel không áp dụng được vào trường hợp của bức Công hàm ngày 14/09/1958  vì thiếu yếu tố quốc gia nại “Promissory estoppel” phải chứng minh rằng lời hứa hẹn, lời tuyên bố của quốc gia kia có đủ tín lực.

3/ Nguyên lý Promissory estoppel không áp dụng được vào trường hợp của bức Công hàm ngày 14/09/1958  vì thiếu yếu tố ‘Quốc gia nại “Promissory estoppel” phải chứng minh đã bị thiệt hại vì dựa vào lời tuyên bố hoặc lời hứa của quốc gia kia,  hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó”.

4/  Trong chiến tranh xâm lược miền Nam, chúng ta biết rõ CSVN có cả vũ khí của Nga Xô và Tiệp khắc, cho nên, viện trợ của Nga Sô – Trung Cộng – Tiệp khắc chỉ là sự trợ giúp cù các quốc gia khối Cộng, gọi là nghiã vụ Quốc tế Cộng sản


           CSVN đã thừa hiểu điều này, nhưng không có ai dám cả gan phê bình rằng vị cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có tư cách và thẩm quyền viết cái Công hàm để đơn phương quyết định dâng đất đai của tổ quốc cho ngoại bang, vì sợ “phạm húy”, sợ bị đưa đi tẩy não,  mất tất cả tương lai, sự nghiệp, danh vọng.

           Trung quốc đã thừa hiểu điều này, vì quí vị đã thấy văn kiện xác định chủ quyền lãnh hải của Trung quốc ngày 4/09/1958 là do Quốc hội Trung quốc họp bàn,  làm ra văn bản đó, và văn bản đó đã được làm ra đúng thẩm quyền.

           Nhưng phía Việt Nam đáp lại một văn kiện của Quốc hội Trung quốc  bằng cái Công hàm đơn giản của ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng quyết định về lãnh hải.

           Đúng thẩm quyền, nhưng bản Quyết nghị của Quốc vụ viện Trung quốc đề ngày 04/09/1958 cũng không có giá trị vì đã xác nhận “bậy bạ” chủ quyền của Trung quốc trên những lãnh thổ không phải của Trung quốc, và quốc tế cũng không chấp nhận đó là những phần lãnh thổ của Trung quốc vào thời điểm quốc hội Trung quốc ban hành Quyết nghị.

             Nếu nghĩ xa hơn về tương lai, GIẢ DỤ RẰNG vấn đề biển Đông được giải quyết bằng các giải pháp hòa bình như thỏa thuận trong nguyên tắc ứng xử giải quyết tranh chấp trong khu vực biển Đông, căn cứ vào chứng minh lịch sử của mỗi nước, nước nào cũng có chút lịch sử, nước nào cũng được chia phần cả, không được  làm chủ hòn đảo này thì sẽ được làm chủ hòn đảo khác,  mỗi quốc gia đều có chủ quyền trên một số đảo lớn, đảo nhỏ, đảo đá ngầm… trong những khu vực quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa – Trung Sa – Đông Sa .. , thì chủ quyền lãnh hải 12 hải lý không phải là của riêng Trung Cộng, mà sẽ là của chung của những quốc gia cùng có chủ quyền trên những hòn đảo khác, nhưng nằm trong cùng khu vực quần đảo đó.

             
            Ông Chu Ân Lai, cố Thủ tướng Trung Cộng thừa hiểu rằng Công hàm, một công văn ngoại giao,  chỉ có một  giá trị và thẩm quyền giới hạn trong sinh hoạt với quốc gia khác, ngay chính bản thân ông Chu Ân Lai cũng không có thẩm quyền đơn phương quyết định về lãnh hải và lãnh thổ Trung quốc, đó là thẩm quyền của Quốc vụ viện,  nhưng họ vẫn cố “giả vờ” nhì nhằng buộc chặt cái công hàm  ngày 14/09/1958 của Phạm Văn Đồng là bán lãnh thổ - lãnh hải của tổ  quốc Việt Nam, được một số người Việt hải ngoại “hùa theo”.

           
           Trung quốc đã thừa hiểu điều này, nhưng họ vẫn cố tình nhập nhằng để kéo dài tranh chấp, hoặc có thể cả hai Đảng CSVN và Trung quốc đang tung hỏa mù, đang cùng nhau diễn kịch,  để những viên chức nhà cầm quyền CSVN và người dân Việt quốc nội cũng như hải ngoại  lo chống Trung Cộng ngang ngược xâm lăng hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, sẽ không khám phá ra những kế hoạch “bí ẩn” mà hai đảng Cộng sản đang tiến hành trong âm thầm liên quan đến vận mạng của đất nước Việt Nam. 

Kính thưa qúy vị,

Một tranh chấp quốc tế,  những vụ kiện về dân sự hoặc hình sự vượt ra khỏi phạm vi của thẩm quyền tòa án quốc nội,  sẽ do trọng tài quốc tế hoặc tòa án quốc tế giải quyết.

Theo luật, trọng tài quốc tế hoặc tòa án quốc tế chỉ giải quyết những vụ việc mà  cả hai bên nguyên đơn - bị dơn đều phải có tư cách pháp nhân quốc tế, ngoại trừ những trường hợp những nguyên thủ quốc gia, các tướng lãnh, bị Công tố viện Tòa án quốc tế truy tố về tội phạm chiến tranh, diệt chủng….

Trong phạm vi quốc nội, mọi người dân đủ tuổi thành niên theo luật quốc gia qui định,  đều có quyền nộp đơn kiện trước tòa án. Từ ngữ pháp luật nói rằng mỗi người công dân đều có tư cách pháp nhân tư pháp.

Trên bình diện quốc tế, luật pháp quốc tế đã đồng hóa mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế là mỗi con người, là con người thì có quyền kiện tụng, nghĩa là mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế được gọi là mỗi pháp nhân công pháp. Từ căn bản này,  mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế,  đều có tư cách pháp nhân công pháp, nói cho dễ hiểu là tư cách pháp nhân quốc tế để khiếu nại hoặc kiện tụng trước trọng tài quốc tế hoặc tòa án quốc tế.

Các tổ chức cộng đồng người Việt quốc gia hải ngoại,  các đảng phái, tổ chức đấu tranh chính trị hải ngoại, hội đoàn người Việt quốc gia hải ngoại (có giấy phép hoạt động hợp pháp), các hội đoàn người Việt trong nước, các luật sư đoàn quốc nội chỉ có tư cách pháp nhân tư pháp kiện tụng trước các tòa án quốc nội, mà không có tư cách pháp nhân công pháp hoặc tư cách pháp nhân quốc tế để khiếu nại hoặc kiện tụng trước trọng tài quốc tế hoặc tòa án quốc tế.

Mọi hành động của người dân Việt trong nườc và người Việt hải ngoại đang làm để bảo toàn lãnh thổ  và lãnh hải của quê hương, sẽ chỉ có hiệu quả, với điều kiện phải có sự ủng hộ và hợp tác chân thành của Đảng, cùng  nhà cầm quyền CSVN, nếu không, chỉ là vô dụng.

Giả dụ rằng có một quốc gia hoặc một tổ chức quốc tế, có đủ tư cách pháp nhân quốc tế, giúp nhân dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước,  nêu vấn đề ra trước cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và phân xử hành vi xâm lấn của Trung Cộng đối với đât nước Việt Nam, xin hỏi quí vị ai sẽ là nguyên đơn trong vụ kiện quốc tế này?

A/   Tổ chức cộng đồng Người Việt hải ngoại? 
B/   Người Việt trong nước?  hoặc
C/   Đại diện của nhà cầm quyền CSVN?

Câu trả lời đúng:  Nguyên đơn trong vụ kiện quốc tế sẽ là quốc gia Việt Nam, đại diện cho quốc gia Việt Nam là nhà cầm quyền CSVN,  có tư cách pháp nhân công pháp,  không phải là tổ chức cộng đồng người Việt hải ngoại và cũng không phải là đại diện của đoàn thể người Việt trong nước.

Nếu ra trước Tòa án quốc tế, đại diện của nhà cầm quyền CSVN khai rằng giữa hai quốc gia Việt Nam – Trung quốc vẫn có giao hảo tốt đẹp căn cứ trên 16 chữ vàng, Việt Nam không hề là nạn nhân của Trung quốc, Việt nam không hề bị Trung quốc gây thiệt hại gì và Việt Nam không có ý định kiện Trung quốc. 

Tòa án quốc tế sẽ xếp hồ sơ. Vụ kiện bị hủy bỏ.  Bao công lao - thiện chí và lòng ái quốc của người dân Việt trong và ngoài nước trở thành “Công dã tràng”.  Nếu quả thật sự việc sẽ xảy ra như vậy thì thật là  đáng buồn cho đất nước.

Nhưng sẽ là niềm vui cho những kẻ đón gió trở cờ, đoán trước tương lai Việt Nam sẽ chỉ là một chư hầu, một tình của Trung quốc, nên đã  sớm “bợ đỡ”, sớm bày tỏ tấm lòng ngưỡng mộ và thần phục ông  chủ lớn Trung quốc, để mong có một ngày, họ được Trung quốc vĩ đại ban cho chút ân sủng. 

Bọn chúng không còn liêm sỉ,  đang ồn ào diển kịch, lũ lâu la thì tổ chức biểu tình chống Trung Cộng, cơ quan truyền thông của phe nhóm thì đả đảo Trung Cộng, nhưng “xếp” của bọn chúng đã công khai bày tỏ tấm lòng “yêu mến và thủy chung” với Trung quốc vĩ đại rồi. Điều này ai cũng rõ!
                                                                                                                   
                                                               “Trích”
Hội Nghị Sát Nhập VN Vào China : Tỉnh Hay Khu Tự Trị ?
Ninh Cơ Ghi Lại, C/N 2009/12 
Lời ghi chú của WebMa : Chúng tôi đã được tài liệu nầy từ hơn nửa năm rối, nhưng chưa tiếp sức phổ biến, vì có nghi ngờ về tính cách xác thực của nó.
Nhưng nay chúng tôi quyết định góp phần phổ biến vì tình hình VN đã biến chuyển hoàn toàn đúng theo những gì đã được ghi trong tài liệu nầy. 
Hội Nghị Sát Nhập Việt Nam vào China : Tỉnh hay Khu Tự Trị ? (Ninh Cơ ghi lại. Trích tài liệu chép lại từ băng ghi âm cuộc họp mật giữa đại diện Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam để lưu trữ, được bảo quản theo chế độ tuyệt mật).

Thưa các đồng chí.

Trong mấy ngày qua, ta đã cùng nhau thảo luận nhiều vấn đề, đạt được đồng thuận về căn bản, tuy không khỏi có sự tranh biện về tiểu tiết. Khép lại, ta có thể hài lòng khẳng định hội nghị đã thắng lợi và thắng lợi lớn. Xin các đồng chí hoan hỉ cạn chén.  
Trong lời phát biểu kết thúc hội nghị, Lương Tư Lệnh nhấn mạnh : « Những gì được đưa ra bàn ở hội nghị chung quy chỉ là những điều đã được đề cập nhiều lần từ nhiều năm trong những cuộc gặp gỡ các cấp tham mưu và cả cao cấp ». Với tư cách Chính Uỷ được đề cử ra chủ trì hội nghị tôi xin tóm tắt vài điều cần thiết.

Trước hết, hội nghị nhất trí cao về quan điểm không có và không hề có chuyện China thôn tính Việt Nam.
China không có nhu cầu thôn tính nước nào. Các nước lân bang đều nghèo. Họ cần đến China hơn là China cần đến họ. Những cái họ có đều ở dạng tiềm năng dưới đất hoặc ngoài biển. Không có China giúp đỡ thì chẳng khai thác được. Trong giai đoạn phải dồn toàn lực cho phát triển kinh tế, mà Ðặng Tiểu Bình lãnh tụ đã vạch ra, mọi sự đèo bồng đều vô nghĩa. Chúng kiềm hãm bước tiến vĩ đại của China vĩ đại.
Thế mà ở Việt Nam lại có những luồng dư luận như thế đấy. Nào là China bá quyền, nào là China bành trướng. Thối lắm, thưa các đồng chí, không ngửi được.

Bọn dân chủ ở Việt Nam đã hô hoán rầm rĩ rằng cuộc vạch lại biên cương giữa China và Việt Nam là tranh chấp biên giới. Trong khi đàm phán, tất nhiên có những điều hai bên phải nhân nhượng nhau. Có chỗ lồi ra, có chỗ lõm vào, ở bên này hay bên kia. Nhưng, đó là kết quả của những thương thảo sòng phẳng, thuận mua vừa bán. Các đồng chí Việt Nam thấy chúng tôi nói thế, lại chỉ thanh minh mới chán. Như, Lê Thứ Trưởng (tức là ông Lê Công Phụng) trả lời phỏng vấn : « Thác Bản Giốc ta cứ tưởng là của ta, bạn cũng không bảo là của bạn. Ðo ra mới biết là của ta chỉ có một phần ba. Vì tình hữu nghị với ta, bạn cho ta hưởng một nửa ». Nói thế là tốt. Nhưng vẫn cứ là thanh minh. Việc gì mà phải là thanh minh cơ chứ ;
Với bọn phản động chuyên gây rối à ; Cứ thẳng tay trấn áp, bịt cái miệng chó của chúng lại. Cứ lừng chừng, thiếu kiên quyết. Cứ hữu khuynh nhân nhượng. Nhân nhượng là chết đấy. Phải quét cho bằng sạch, không thương xót bọn dân chủ. Không cho chúng được đàng chân lên đàng đầu. Vùi chúng xuống đất đen, không cho chúng ngóc đầu dậy. Nhưng, cái đó sẽ không còn là vấn đề trong tương lai.
Việc tiêu diệt bọn dân chủ dòi bọ sẽ không còn là việc của riêng các đồng chí Việt Nam. Nó sẽ là nhiệm vụ chung của tất cả chúng ta.
Thưa các đồng chí.
Hội nghị đã thành công là nhờ nó gạt được ra những chuyện lặt vặt vô bổ, đang là đề tài thời sự, để tập trung vào đại sự : bàn về chuyện hợp nhất hai quốc gia trong tương lai. Tương lai có thể chưa tới ngay, nhưng lại có thể rất gần. Vì thế, ta phải có viễn kiến và phải có sự chuẩn bị.
Hợp kết China Việt Nam có thể là một mốc lịch sử vĩ đại trên đường phát triển của tổ quốc. Với tư cách tham mưu cho cấp cao hai bên, trong hội nghị này chúng ta bàn thẳng vào những phương án phát thảo những bước tiến hành cụ thể, những công việc cụ thể trong công tác chuẩn bị. Nào, xin cạn chén một lần nữa, mừng thắng lợi của hội nghị lịch sử này.
Trong tình thế hiện nay, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác, không còn con đường nào khác hơn là trở về với tổ quốc China vĩ đại. Ði với Mỹ chăng ? Thì các đồng chí chạy đi đâu ? Trở về với tổ quốc thì các đồng chí mới tiếp tục tồn tại như những ông chủ duy nhất trước hiểm hoạ của bọn dòi bọ đang tích cực phản công nhằm tống cổ các đồng chí ra khỏi chỗ ngồi của mình. Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, các đồng chí không được ngồi ở bàn giấy trong công thự, mà phải đi lang thang ngoài đường kiếm việc làm. Thật khủng khiếp. Vì thế, chúng ta phải chiến đấu hết mình cho sự tồn tại của chúng ta, cho con cháu chúng ta, tương lai của chúng ta, của con cháu chúng ta. Quyết không để lọt vào tay kẻ khác. Lũ dân chủ dòi bọ ấy có cả ở China. Tôi thừa nhận điều đó. Nhưng chúng tôi thẳng thắn trấn áp chúng thắng lợi. Nhưng ở Việt Nam tình trạng có khác. Chúng hung hăn hơn, lì lợm hơn, là do các đồng chí thiếu kiên quyết. Nếu ở China có một Thiên An Môn, thì tại sao Việt Nam không có một cái tương tự ;
Tôi xin bảo đảm với các đồng chí rằng, China sẽ tận tình chi viện cho các đồng chí, một khi có sự biến đe doạ quyền lợi của đồng chí, để bảo vệ các đồng chí. China không thiếu xe tăng dĩ chí trong vài Thiên An Môn ... Các đồng chí cứ hỏi Nông đồng chí (tức ông Nông Ðức Mạnh) xem Hồ đồng chí (tức là Hồ Cẩm Ðào) đã hứa hẹn gì trong cuộc gặp gỡ cấp cao vừa rồi. Nhưng đó là trong tình huống hiện nay. Trong tương lai thì hai nước đã là một, thì sẽ không phải như vậy.
Việc Việt Nam trở về với tổ quốc China vĩ đại là việc trước sau sẽ phải đến. Không sớm thì muộn. Mà sớm thì hơn muộn.
Trong lịch sử, Việt Nam từng là quận huyện của China, là một nhánh của cây đại thụ China. China và Việt Nam là một. Ðó là chân lý đời đời. Ðó cũng là lời của Hồ đồng chí (tức là ông Hồ Chí Minh) trong lễ tuyên thệ gia nhập đảng cộng sản China. Hồ đồng chí tôn kính còn dạy : « China, Việt Nam như môi với răng. Môi hở thì răng lạnh ». Có nghĩa là hai nước là hai bộ phận trong cùng một cơ thể. Nông đồng chí (tức là đồng chí Nông Ðức Mạnh) từng tự hào nhận mình là người Choang (Zhuang) trong cuộc gặp gỡ các đại biểu trong Quốc Vụ Viện. Mà dân tộc Choang là gì ; Là một bộ phận của đại gia đình các dân tộc China. Trong thời đại hiện nay thì thế giới được tái phân chia sau đệ nhị thế chiến, thì Hoa Kỳ đã mất sự độc tôn trong sự trỗi dậy bất ngờ của tổ quốc chúng ta, thì sự sát nhập trở lại của Việt Nam và toàn bán đảo Ðông Dương tiếp theo là điều tất yếu. Thế nhưng chúng ta đều đã thấy, đã biết những biểu hiện lừng chừng, giao động lúc này lúc khác, trong ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam muốn người dựa lưng vào China, người dựa hơn con hổ giấy Hoa Kỳ. Bây giờ đã khác. Sự lựa chọn chỉ còn có một. Và ở đây, các đồng chí Việt Nam tỏ ra có lựa chọn đúng. Ngày nay, China vĩ đại phải dành lại vị trí đã có của mình. Có Việt Nam nhập vào, China đã vĩ đại lại càng thêm vĩ đại. Thế giới hôm nay chỉ còn lại hai siêu cường. Ðó là China và Hoa Kỳ. Con hổ giấy Hoa Kỳ.
Những việc mà bây giờ chúng ta phải làm. Tôi xin nhấn mạnh lại lần nữa. Không phải bây giờ mới làm, nhưng làm chưa đúng, làm chưa đủ, thì nay cần phải đẩy mạnh hơn nữa. Phải triển khai rộng hơn nữa là đè bẹp và tiêu diệt luận điệu tinh thần dân tộc vẫn còn tồn tại dai dẳng trong bọn kiên trì lập trường độc lập dân tộc. Ðặc biệt trong đám trí thức và vài phần tử công thần chủ nghĩa trong tướng lĩnh. Cần phải tiêu diệt cả về tinh thần, cả về vật chất.

Trong tướng lĩnh, phần nhiều là người của ta, do ta đào tạo, cất nhắc. Công này là nguyên chủ tịch Lê (tức là Lê Ðức Anh) người rất biết nhìn xa trông rộng. Tuy nhiên, lẫn vào đấy cũng vẫn có vài phần tử lừng chừng, giao động, chủ yếu do kém hiểu biết. Các đồng chí cần đả thông, bồi dưỡng thêm cho họ về lập trường, quan điểm và trường đảng các cấp.
Mấy anh già sắp chết hay nói ngang thì phải đe nẹt cho chúng biết rằng, một khi đã bị coi là chống đảng thì chúng sẽ bị tước hết mọi tiêu chuẩn cao đang được hưởng, tất chúng sẽ im mồm.
Ðám trí thức lèo tèo mới là đáng ngại. Tuy chẳng có trong tay cái gì, nhưng chúng có khả năng kích động tinh thần nhân dân để cản trở sự hợp nhất. Nhưng không lo. Mao chủ tịch đã dạy : « Trí thức khởi xướng được, nhưng không làm được. Chúng chỉ lép bép lỗ miệng. Thấy súng lên đạn là chúng rùng rùng bỏ chạy ». Ðáng ngại là ở chỗ ấy, chỗ khởi xướng. Nhưng không đáng sợ cũng ở chỗ ấy. Ở chỗ bản tính trí thức, hãy lên đạn, hãy hô bắn thật to, đâu sẽ vào đấy.
Lực lượng chủ yếu của chúng ta trong việc trấn áp bọn dân tộc chủ nghĩa là hai cánh quân. Về vật chất là công an, về tinh thần là truyền thông. Công an sẽ được cung cấp mọi trang bị hiện đại nhất để đè bẹp mọi mưu toan đối kháng. Nhưng phải chú ý đến điểm này : Không được lạm dụng các phương tiện hiện đại. Chiếu cố những biện pháp truyền thống ít gây ồn ào, tránh những phản ứng quốc tế bất lợi.
Truyền thông phải xừ dụng mọi phương tiện sẵn có. Tăng cường viết và nói hằng ngày hằng giờ, biện luận cho dân thấy cái lợi của việc sát nhập. Họ sẽ được hưởng mọi phúc lợi của người dân China hơn hẳn phúc lợi đang có. Họ sẽ không còn chuyện lủng củng vướng mắc về biên giới. Ngư dân được tha hồ đánh cá trên Biển Ðông này cũng là của họ mà không còn phải lo lắng : vì xâm phạm lãnh hải, bị hải quân China trừng phạt. Người dân khi xuất ngoại sẽ được cầm hộ chiếu của một nước lớn mà thế giới phải kiêng nể.

Tuy nhiên, tôi đặc biệt lưu ý các đồng chí là phải tiến hành kín đáo, để mọi việc chuẩn bị diễn ra như bình thường, không nhận thấy được.
Trong khi chưa được hợp nhất, trung ương chính phủ, cũng như các tỉnh chính phủ, tuyệt đối không lộ ý đồ. Thỉnh thoảng cũng phải cho phát ngôn nhân trung ương chính phủ nói dăm ba câu phản đối về chủ quyền Tây Sa và Nam Sa. Và cho phép các báo đăng vài bài chiếu lệ về biên giới và hải đảo với mọi « sự cố » xảy ra trên biển như vừa rồi. Cứ tiếp tục ám chỉ một nước ngoài nào đó, hoặc một tàu lạ nào đó, không rõ quốc tịch là được.
Ðừng quên xem thường các nhà báo. Họ là công bộc trung thành của ta. Thiếu họ không được. Hiện nay đang nổi lên sự phản đối China khai thác Bauxite ở miền Trung, ồn ào lắm, có vẻ hung hăng lắm. Nhưng là bề ngoài thôi. Chứ bề ở trong, bọn phản đối cũng thừa biết mọi sự đã an bày. Tiền đã trao thì cháo phải được múc. Bộ Chính Trị quyết không bỏ kế hoạch này. Nhất là đồng chí Nông Ðức Mạnh. Là chuyện sinh tử của đồng chí Nông Ðức Mạnh nên đồng chí ấy rất cương quyết.
Trong chuyện Bauxite, tôi thấy bên cạnh cái xấu lại có cái tốt đấy. Các đồng chí ạ ! Phải công bằng mà lập luận, một khi Việt Nam đã nhập vào China thì vùng Tây Nguyên của Việt Nam là của chung nước ta. Chưa chừng, trên sẽ thay đổi kế hoạch. Ta không khai thác ở đấy nữa, mà chuyển sang khai thác, thực hiện ở Châu Phi. Bauxite của ta, ta để đấy dùng sau. Cũng như ta đâu có vội khai thác cả tỷ tấn Bauxite ở Quảng Tây.
Nói để các đồng chí phấn khởi. Về thực chất, qua con đường ngoại thương, đầu tư, ta nắm Châu Phi trong nhiều năm nay rồi. Ta đã mua hết các chính quyền ở đấy. Cái đó gọi là quyền lực mềm. China đến sau Phương Tây và Hoa Kỳ, vậy mà chỉ trong vòng 1 thập niên, ta đã quét sạch chúng khỏi đấy. Ta còn chuyển dân mình sang Châu Phi, làm thành những vùng đất China trên lục địa đen kia nữa. Người China bây giờ có quyền nói : « Mặt trời không bao giờ lặn trên đất đai của tổ quốc ».
Phải trấn an các cán bộ các cấp, từ trung ương cho đến địa phương để họ thấy rằng sau hợp nhất, mọi vị trí quyền lợi, bổng lộc của họ không bị suy suyển. Các đơn vị hành chính sẽ được giữ nguyên trong một thời gian dài trước khi áp dụng mô hình hành chánh chung của toàn quốc.
Việc này rất quan trọng. Xin các đồng chí chớ coi thường. Lãnh đạo từ trung ương cho đến địa phương có thông thì dân mới thông. Nhân dân đã được giáo dục chu đáo trong nhiều năm, tinh thần tuyệt đối phục tùng lãnh đạo. Nhưng nếu họ thấy cấp trên của họ giao động, tư tưởng bất thông thì chính họ cũng sẽ giao động theo, trở thành mồi ngon cho những tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.
Thưa các đồng chí.
Còn lại việc cuối cùng là mô hình quản trị Việt Nam trong tổ quốc thống nhất. Tỉnh hay khu tự trị ? Chuyện này xin các đồng chí về nghĩ thêm, bàn thêm. Tỉnh thì cũng như Quảng Ðông, Quảng Tây. Về diện tích hơn kém không nhiều. Khu tự trị kiểu như khu tự trị Choang trong tỉnh Quảng Tây thì lại quá nhỏ về vai vế. Nông đồng chí vốn rất e ngại sự chống đối trong nội bộ. Mà làm khu tự trị với ý nghĩa lớn hơn thì lại vướng chuyện Tây Tạng. Bọn chó Ðạt Lai Lạt Ma cũng đang xin tự trị đấy, mà trung ương không thuận.
Còn mấy đồng chí Việt Nam nêu ý kiến, hay là tổ chức China thành liên bang, Việt Nam sẽ là một nước hay một bang trong liên bang ấy. Ý kiến này không mới. Nó đã từng được nêu lên. Nhưng các đồng chí thử nghĩ xem. Nếu như thế thì thống nhất làm sao được với bọn Tây Tạng, bọn Nội Mông, bọn Mãn Châu, bọn Hồi Bột. Chính chúng nó đang muốn cái đó để xưng độc lập, hoặc tự trị trong liên bang. Trên nguyên tắc thì đúng, là cái gì cũng được.
Danh chính thì ngôn thuận. Nhưng nội dung bất biến. Vùng nào cũng chỉ là một bộ phận lãnh thổ của China. Có điều những danh hiệu độc lập, tự trị là cái rễ bị lồng vào đấy cái tinh thần dân tộc, mầm mống cho sự phận liệt. Không được. Quyết không được.

Thưa các đồng chí.
Vấn đề hình thức nhưng lại có tầm quan trọng. Xin các đồng chí phát huy tự do tư tưởng ... (hết phần trích và dịch đoạn băng ghi âm).
                                                    “Hết trích”
Người Việt Nam cả hai miền Nam – Bắc đã bị CSVN lừa gạt bằng những lời hay ý đẹp, nên đã ủng hột bọn chúng chiến thắng miền Nam vào ngày 30/04/1975,  nay CSVN lại bị Trung quốc lừa gạt cũng bằng những lời hay ý đẹp của 16 chữ vàng  “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”  và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” để sau cùng Trung Cộng “tiếp thu” Việt Nam một cách hoà bình, không tốn một phát đạn, theo kiểu “tầm ăn dâu”.  

Vận nước giờ đây giờ đây giống như tâm trạng của cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu trong bài 

                               “Vịnh bức dư đồ rách 1” 

                                                Nọ bức dư đồ thử đứng coi
                                               Sông sông núi núi khéo bia cười
                                               Biết bao lúc mới công vờn vẽ
                                               Sao đến bây giờ rách tả tơi
                                              Ấy trước ông cha mua để lại
                                              Mà sau con chắu lấy làm chơi
                                             Thôi thôi chớ trách chi đàn trẻ
                                              Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi. (4)

Các nhà văn, nhà thơ đương thời cảm tác cùng tác gỉa, lên tiếng hưởng ứng, ủng hộ tư tưởng của Tản Đà bằng cách có nhiều bài họa lại… Tản Đà đồng cảm liền viết bài họa lại thứ 2 - Vịnh Bức Dư Đồ Rách - 2, đăng trên Đông Phương Thời báo, số 635,- năm 1927:
                                       Vịnh Bức Dư Đồ Rách  2
                                                          Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi
                                                         Ta bồi cho chúng chị em coi
                                                         Giận cho con cháu đà hư thế
                                                         Nghĩ đến ông cha dám bỏ hoài.
                                                         Còn núi còn sông: Nhìn vẫn rõ
                                                         Có hồ có giấy dễ mà chơi.
                                                         Bởi chưng hồ giấy ta chưa có
                                                        Đành chịu ngồi trông rách tả tơi. 

Như được chắp thêm cánh, đồng hành bay bổng cùng Tản Đà, các nhà nho, nhà văn có tâm huyết, yêu đất nưóc, dân tộc cùng tham gia họa lại BDĐR… Tản Đà viết tiếp bài thứ 3 - Vịnh Bức Dư Đồ Rách - 3, đăng trên Đông Phương Thời Báo số 636 - 1927:
                                                                
                                                      Vịnh Bức Dư Đồ Rách  3
                                                      Đành chịu ngồi trông rách tả tơi
                                                      Buồn chăng? Hỡi các chị em ơi!
                                                     Nghĩ cho lúc trước thương người vẽ
                                                     Ngó lại xung quanh hiếm kẻ bồi
                                                     Hồ giấy bây giờ mua kiếm khó
                                                     Non sông ai hỡi đợi chờ ai?
                                                     Còn núi còn sông còn ta đó
                                                     Có lúc ta bồi chúng bạn coi. 
 Cuối cùng Tản Đà tổng kết cuộc họa thơ do ông khởi xướng bằng bài Vịnh Bức Dư Đồ Rách  4, đăng trên Đông Phương Thời Báo số 643 - năm 1927:
                                   Vịnh Bức Dư Đồ Rách  4
                                                   Có lúc ta bồi chúng bạn coi
                                                   Chị em nay hãy tạm tin lời
                                                   Dẫu cho tài có cao là thánh
                                                   Chưa dễ tay không vá nổi trời
                                                   Hồ giấy muốn mua, tiền chẳng sẵn
                                                   Non sông đứng ngắm lệ nhường rơi
                                                   Việc nhà chung cả ai ai đó
                                                   Ai có cùng ta sẽ liệu bồi? 
                                           
                                              
Phúc Linh

---  HẾT  ---

DienDanCTM

0 comments:

Đăng nhận xét

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More