Phúc
Linh
Phần
II
Lập luận của
Trung Cộng
Trong một
cuộc tranh chấp, thiết nghĩ chúng ta cần phải biết lập trường, quan điểm, lý lẽ
của đối phương là Trung Cộng như thế nào.
Trung Quốc có đầy đủ căn cứ pháp lý về chủ quyền
quần đảo Nam Sa
Theo tài liệu “Chủ quyền tuyệt đối
của Trung Quốc trên quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa” của Bộ Ngoại
giao Trung Quốc (Beijing Review, 18/2/1980), thì Hà Nội đã “dàn xếp” vấn đề này
trong quá khứ.
- Hồi tháng 6 năm 1956, hai năm sau ngày
chính phủ của ông Hồ Chí Minh đã được tái lập tại Hà Nội, Thứ trưởng Ngoại giao
Bắc Việt Ung Văn Khiêm nói với Li Zhimin, Xử lý Thường vụ Toà Đại Sứ Trung quốc
tại Bắc Việt, rằng “theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa là môt bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc”.
- Ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ
Trung Quốc đã tuyên bố bề rộng của lãnh hải Trung Quốc là mười hai hải lý, được
áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, “bao gồm
… Quần Đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa …”.
Mười ngày sau đó, Phạm Văn Đồng đã
ghi rõ trong bản công hàm gởi cho Chu An Lai, rằng “Chính phủ nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của
Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa về vấn đề lãnh hải”.
Ðây là của văn bản của nhà
nước Việt Nam do Phạm Văn Ðồng
ký gởi cho Chu Ân Lai vào ngày 14/9/1958 để ủng
hộ cho lời tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.
………………………………………………..
Báo Beijing Review hôm Thứ Hai 1-8-2011 khẳng định lần nữa chủ
quyền Trung Quốc toàn bộ trên Hoàng Sa và Trường Sa, mà TQ gọi là Xisha (Tây
Sa) và Nansha (Nam Sa).
Bài viết nêu ra luận điểm:
“Từ 1954 tới 1975, chính phủ CSVN công khai
công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ TQ trong nhiều trường hợp.
Thí dụ, Thủ Tướng VN Phạm Văn Đồng xác nhận những
đảo này là lãnh thổ TQ trong văn thư ngoại giao gửi Thủ Tướng TQ Chu Ân Lai vào
ngày 14-9-1958.
Sau đó, còn được xác nhận bởi một bản đồ thế
giới xuất bản bởi Tổng Tư Lệnh Quân Lực CSVN năm 1960. Trong bản đồ, đảo Nam Sa
(tức Trường Sa) được ghi là lãnh thổ TQ. Rồi sau đó, vào năm 1972, Sở Thăm Dò
và Bản Đồ VN in một bản đồ trong đó đảo Nam Sa viết bằng chữ Trung Hoa, chứ
không phải viết bằng tiếng Việt, Anh hoặc Pháp.”
Đó là những chi tiết mới do phía Trung Quốc
đưa ra. Không hiểu đó có phải là sự đồng thuận thực sự giữa TQ-VN hay không?
Chưa thấy Bộ Ngoại Giao VN trả lời.
…………………………….
Về vấn đề tấm bản đồ thế giới với ghi chú quần đảo Hoàng Sa là của
Trung quốc, Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ đã trả lời như sau:
“Trích”
“Với mục đích theo đuổi chuẩn mực phù hợp và
chính xác, Hội địa lý quốc gia (National Geographic Society- NGS), có bề dầy lịch
sử 122 năm là một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động trong lĩnh vực khoa học
và giáo dục, chúng tôi luôn cố gắng tham khảo nhiều nguồn để đưa ra những quyết
định độc lập dựa trên những nghiên cứu kỹ càng.
Chúng tôi không tìm cách giải quyết các tranh chấp
về lãnh thổ giữa các bên về chủ quyền cũng như cách gọi tên, nhưng luôn theo một
chính sách mang tính thực tế – có nghĩa là, nhằm miêu tả một cách tốt nhất cho
bất kỳ người đọc hoặc người xem nào tình
trạng thực tế.
Đối với quần đảo Paracel Islands
(tên gọi truyền thống từ lâu đời), National Geographic thừa nhận rằng quần đảo
này đã bị chiếm đóng và quản lý bởi chính phủ Trung Quốc từ năm 1974, và do vậy
sử dụng tên Tây Sa của Trung Quốc như tên gọi chính. Điều này phù hợp với chính
sách bản đồ của chúng tôi.
Trên bản đồ của khu vực hoặc những
bản đồ có tỉ lệ đủ lớn, chúng tôi cũng thừa nhận và ghi chú tên tiếng Việt là
Hoàng Sa, với lưu ý rằng Trung Quốc hiện chiếm giữ và quản lý các
quần đảo này, trong khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Chúng tôi tin tưởng rằng
đó là thực tế mà tất cả chúng ta đều đã rõ.
Gần đây xẩy ra nhiều khiếu nại về các ghi chú
trên bản đồ thế giới của chúng tôi, tỉ lệ quá nhỏ của bản đồ gây khó khăn cho
chúng tôi trong việc ghi các thông tin chi tiết về các quần đảo nhỏ như quần đảo
Hoàng Sa.
Chúng tôi đã xem xét kỹ tình hình và nhận ra rằng,
nếu chỉ đơn giản ghi tên các quần đảo này bằng tiếng Hoa và chữ “Trung Quốc” mà
không có thêm lời giải thích nào có thể gây ra hiểu lầm đáng tiếc.
Trong tương lai, chúng tôi sẽ cung cấp những lời
giải thích về tên gọi trên các bản đồ của chúng tôi, hoặc chúng tôi sẽ bỏ qua,
không ghi bất kỳ tên gọi nào. Chúng tôi hy vọng điều này sẽ tốt hơn với thực tế
hiện nay trong việc chú giải trên các bản đồ có tỉ lệ lớn.
Cập nhật ngày 25/03/2010
Ủy ban Chính sách Bản đồ thuộc Hội Địa Lý Quốc
Gia gần đây đã có cuộc gặp gỡ để thảo luận về vấn đề này một cách chi tiết hơn.
Dựa trên những thông tin tốt nhất và những nghiên cứu sẵn có, Ủy ban Chính sách
Bản đồ cố gắng đưa ra các đánh giá độc lập về những thay đổi trong tương lai hoặc
cách giải thích trên các bản đồ của mình, cũng như trong việc sửa các lỗi đã
có.
Các quy ước đặt tên của quần đảo
Hoàng Sa trên bản đồ của chúng tôi sẽ được sửa đổi như sau:
* Bản đồ thế giới với tỉ lệ nhỏ
hơn: Sử dụng tên thông thường – Paracel Islands
– và sẽ không ghi chú sở hữu của nước nào.
* Bản đồ khu vực, châu lục với tỉ
lệ lớn hơn: Sử dụng tên thông thường – Paracel Islands – với ghi chú về sở
hữu rằng: chiếm đóng bởi Trung Quốc trong năm 1974, mà Trung Quốc gọi là Tây Sa
Qundao; Việt Nam đòi chủ quyền, tên Việt Nam là Hoàng Sa.
Các quy ước này sẽ được áp dụng trên các ấn phẩm
phát hành trong tương lai với các bản đồ của chúng tôi, và cả trên các bản đồ
trực tuyến trong thời gian ngắn sắp tới.
“Hết
trích”
Phần III
Lập trường của nhà cầm
quyền CSVN
Trong một
số bài viết, các tác giả đã viện dẫn câu "Lúc đó là thời kỳ chiến
tranh và tôi đã phải nói như vậy" của CSVN để
giải thích bản Công hàm đã được viết ra trong hoàn cảnh như thế nào.
Đó là năm 1958, vào thời điểm này, giữa hai miền
Nam – Bắc Việt Nam chưa có chiến tranh, câu “"Lúc đó là thời kỳ chiến tranh” là
chiến tranh ở đâu? Và bởi vì
lý do có chiến tranh, nên “ tôi đã phải
nói như vậy". Quí vị
hiểu như thế nào về ý nghĩa câu giải thích này?
CSVN
giải thích rằng vào thời điểm 1958, lãnh hải của các quốc gia chỉ là 03 hải lý. Thời gian này, Trung quốc đang muốn
chiếm Đài loan tức là Trung Hoa quốc gia do Tưởng Giới Thạch làm Tồng thống, vì
lo sợ bị Trung quốc xua quân tiến chiến,
nên Trung hoa quốc gia và Hoa Kỳ đã ký một hiệp ước liên minh phòng thủ, theo
đó, quốc gia nào tấn công Đài loan đồng nghĩa với tấn công Hoa Kỳ, Trung quốc
đang bị đe dọa trước hiểm họa bị Hoa Kỳ tấn công, như vậy, đây là thời kỳ chiến
tranh của Trung Cộng, và Trung Cộng đã nới rộng vùng lãnh hải từ 3 hải lý ra 12
hải lý để đề phòng việc tàu chiến Hoa Kỳ
tiến sát vào Trung quốc, đe dọa an toàn lãnh thổ Trung hoa.
Có một tài liệu viết lại bối cảnh lịch sử thời kỳ
năm 1958 tại Trung quốc để giải thích tại sao Trung Cộng lại nới rộng vùng lãnh
hải từ 03 hải lý thành 12 hải lý, như sau:
“Trích”
“Ngày
26/5/1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã
ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của
Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan.
Với hành động
này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ
rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3/9/1954, Trung Quốc đã tấn công trừng
phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ.
Các nhà chép
sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất.
Ngày
11/8/1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai
tuyên bố sẽ "giải phóng" Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo
Kim Môn và Mã Tổ.
Ngày
12/9/1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc
bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí
nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này.
Năm 1958, tiếp
tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23/8/1958 Trung
Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn.
Theo Hiệp định
Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho
tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền
tiêu Kim Môn và Mã Tổ.
Ngoài bối cảnh
"phức tạp và cấp bách" đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc
sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn
Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH -Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em".
Năm 1949, bộ
đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ
tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc.
Năm 1957,
Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng
khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam.
Điều này cho
thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH - Trung Quốc lúc bấy giờ.
Do vậy,
trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng
eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp.
Việc Trung
Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ
quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan.
Tuy nhiên,
Trung Quốc vẫn không quên mục đích "sâu xa" của họ trên Biển Đông nên
đã "lồng ghép" thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
vào bản tuyên bố.
Công hàm
1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung
Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các
quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp
thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của
Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan.
Thủ tướng Phạm
Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn
trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển
Đài Loan và đe dọa Trung Quốc”.
………………………
Tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam về Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa (1979)
Vào ngày 30/7/1979, Trung Quốc đã công khai công bố tại Bắc Kinh một số tài liệu với ý định để minh chứng cho việc tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Về vấn đề này, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam tuyên bố:
1. Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Các Sứ quân Việt Nam đã là những người đầu tiên trong lịch sử đến chiếm đóng, tổ chức, kiểm soát và khai phá các quần đảo này trong chức năng của họ như là các lãnh chúa. Quyền sở hữu này có hiệu quả và phù hợp với luật pháp quốc tế.
Chúng tôi có đầy đủ các tài liệu lịch sử và luật pháp để chứng
minh chủ quyền tuyệt đối trên hai quần đảo này.Vào ngày 30/7/1979, Trung Quốc đã công khai công bố tại Bắc Kinh một số tài liệu với ý định để minh chứng cho việc tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Về vấn đề này, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam tuyên bố:
1. Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Các Sứ quân Việt Nam đã là những người đầu tiên trong lịch sử đến chiếm đóng, tổ chức, kiểm soát và khai phá các quần đảo này trong chức năng của họ như là các lãnh chúa. Quyền sở hữu này có hiệu quả và phù hợp với luật pháp quốc tế.
2. Sự diễn giải của Trung quốc về văn bản ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà như một sự công nhận chủ quyền của phiá Trung quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản văn chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung quốc.
3. Năm 1965, Hoa Kỳ gia tăng cuộc chiến tranh xâm lược tại miền Nam Việt Nam và phát động một cuộc chiến huỷ diệt bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc Việt Nam. Họ đã tuyên bố rằng khu vực chiến trường của quân đội Hoa Kỳ bao gồm Việt Nam và vùng lân cận của khu vực khoảng 100 hải lý tính từ bờ biển Việt Nam.
Vào lúc đó, trong cuộc đấu tranh
chống Mỹ cứu nước, nhân dân Việt Nam đã phải chiến đấu trong mọi tình huống để
bảo vệ chủ quyền đất nước. Thêm nữa, Việt Nam và Trung Quốc lúc đó vẫn duy trì
quan hệ hữu nghị.
Bản tuyên bố ngày 9/5/1965 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa đã đưa ra lý do để tồn tại chỉ với quá trình lịch sử này.4. Từ năm 1972, theo sau Bản Thông cáo chung Thượng Hải, những kẻ cai trị Trung Quốc đã âm mưu với bọn hiếu chiến Mỹ để phản bội nhân dân Việt Nam, gây ra biết bao nhiêu trở ngại cho cuộc chiến tranh tự vệ của Việt Nam.
Ðầu Tháng Giêng 1974, chỉ trước khi nhân dân Việt Nam toàn thắng vào mùa Xuân 1975, Trung Quốc đã chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp quân sự, lúc đó vẫn dưới sự quản lý của chính quyền Sài Gòn.
Việt Nam Cộng Hòa lúc đó đã tuyên bố rõ ràng cương vị của họ như sau đây:
- Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là những câu hỏi thiêng liêng cho tất cả mọi quốc gia.
- Những khó khăn về biên giới lãnh thổ, thường tồn tại trong các cuộc tranh chấp giữa các nước láng giềng do lịch sử để lại, có thể vô cùng rắc rối và nên được nghiên cứu kỹ càng.
- Các quốc gia quan tâm nên cứu xét vấn đề này trong tinh thần công bằng, tôn trọng lẫn nhau, hòa nhã, láng giềng tốt và giải quyết vấn đề bằng sự thương lượng.
5. Tại các cuộc thảo luận tổ chức vào ngày 24/9/1975 với phái đoàn Ðảng và Nhà nước Việt Nam trong chuyến thăm viếng Trung Quốc, Phó Thủ tướng Ðặng Tiểu Bình đã thú nhận rằng có sự tranh chấp giữa hai bên về vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và hai bên sau đó nên bàn thảo với nhau để giải quyết vấn đề
6. Chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa
một cách bất hợp pháp bằng quân sự, Trung Quốc đã xâm phạm vào sự toàn vẹn lãnh
thổ của Việt Nam và dẫm chân lên làm cản trở tinh thần của Hiến chương Liên Hiệp
Quốc kêu gọi giải quyết tất cả các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình.
Sau khi phát động một cuộc chiến
xâm lược Việt Nam với tầm vóc to lớn, phía Trung Quốc lại nêu ra vấn đề quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa, trong khi tạo ra một tình trạng càng ngày càng căng thẳng
dọc theo biên giới Việt Nam và từ chối việc thảo luận những giải pháp cấp thiết
để bảo đảm hoà bình và ổn định trong khu vực biên giới giữa hai nước.
Ðiều rõ ràng là những kẻ cai trị
Trung Quốc vẫn không từ bỏ ý định tấn công Việt Nam một lần nữa. Hành động của
họ là một sự đe doạ nghiêm trọng cho hoà bình và ổn định trong vùng Ðông Nam Á
và làm lộ rõ hơn tham vọng bành trướng, với bản chất bá quyền hiếu chiến của một
nước lớn, bộ mặt xảo trá lật lọng và phản bội của họ.
Hà Nội, ngày 7 tháng 8 năm 1979
Hà Nội, ngày 7 tháng 8 năm 1979
……………………………………….
Phái đoàn
thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc ngày 3/5 đã gửi thư lên tổ chức này về
hai văn bản của Philippines và Trung Quốc liên quan tới chủ quyền Biển Đông.
Bức thư gửi
đến Ban phụ trách các vấn đề đại dương và Luật biển của LHQ nhắc tới công hàm số
000228 ngày 5/4/2011 và công hàm số CML/8/2011 ngày 14/4/2011 do Philippines và
Trung Quốc gửi tới Tổng thư ký LHQ.
Phái đoàn
thường trực đã chuyển đến LHQ quan điểm của chính phủ Việt Nam rằng: “Quần đảo Hoàng Sa (Paracel) và Trường Sa
(Spratly) là những phần không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam có đầy
đủ những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình với
hai quần đảo này”.
……………………..
Vào tháng
5/2009, một ngày sau khi Trung Quốc đưa ra bản đồ chín đoạn (còn gọi là đường
lưỡi bò) lên ủy ban của LHQ, Việt Nam và Malaysia đã đệ đơn phản đối.
Indonesia,
tuy không phải là bên tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, cũng phản đối bản đồ của
Trung Quốc trong năm ngoái.
Trong cả bốn
thư ngoại giao đệ trình lên LHQ chống lại bản đồ chín đoạn của Trung Quốc, chỉ
có thư phản đối của Philippines khiến Bắc Kinh gửi công hàm đáp trả lên Tổng
thư ký LHQ Ban Ki-Moon.
Thái An
“Hết trích”
Phần
IV
Lập trường của chính phủ Việt Nam Cộng hòa
Năm
1974, sau ngày xảy ra cuộc hải chiến giữa hải quân VNCH và hải quân Trung Cộng,
những buổi hội thảo về vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa được tổ chức khắp nơi. Ngày
đó, tôi đang có mặt tại thành phố Huế, tham dự một buổi hội thảo của chính trị
gia Lê Đình Cai và GS. Nguyễn Văn Kính,
được biết một giải pháp cho Việt Nam với sự thỏa thuận của Hoa Kỳ đã được
nhận rõ qua cuộc hải chiến, vì Đệ thất hạm
đội Hoa Kỳ cũng có mặt trong vùng hải chiến nhưng đã nhẫn tâm “bất động” theo
dõi cuộc hải chiến mà không can thiệp.
Sau khi
Trung Cộng ra Tuyên bố yêu sách với Việt Nam về Hoàng Sa – Trường Sa, Ngoại trưởng
VNCH Vương Văn Bắc ra Tuyên cáo phản đối.
Trích Bạch thư của Bộ
Ngoai giao VNCH về vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa
“Trích”
Tuyên cáo của chính phủ Việt Nam
Cộng Hòa (1974)
“ Sứ mạng quan trọng và cao quý nhất của một Chính Phủ là bảo vệ
chủ quyền,
sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ Quốc Gia. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa quyết tâm theo đuổi trọng trách này, bất
kể các gian nan có thể phải đối đầu và bất kể các chướng ngại vô cớ xuất phát từ
bất cứ nơi đâu.
Trước sự xâm lấn quân sự bất hợp pháp của Trung Cộng trên các quần
đảo Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa, Chính Phủ Việt Nam Cộng
Hòa cần long trọng tuyên bố trước dư luận thế giới, cũng như đến bạn và thù rằng:
Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần lãnh thổ không thể
tách rời được của Việt Nam Cộng Hòa. Chính Phủ và Nhân Dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ
không khuất phục trước bạo lực và từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền trên các đảo đó.
Ngày nào một hải đảo đơn độc của một phần lãnh thổ Việt Nam Cộng
Hòa bị cưỡng chiếm
bởi một quốc gia khác, ngày đó Chính Phủ và Nhân Dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ tiếp tục chiến đấu để giành lại chủ quyền chính đáng của họ.
Những kẻ chiếm
cứ bất hợp pháp sẽ phải chịu mọi trách nhiệm cho bất cứ sự căng thẳng xẩy đến bất cứ từ đâu.
Nhân cơ hội này, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng long trọng xác
nhận lại chủ quyền
của Việt Nam Cộng Hòa trên các hải đảo ngoài khơi của miền Trung và Nam Việt Nam, mà đã được
kiên định xác nhận như là một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa trên những
căn bản không thể phủ nhận được về địa lý, lịch sử, pháp lý và trên
nhiều
sự kiện thực tế.
Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa nhất quyết bảo vệ chủ quyền Quốc Gia trên các đảo này bằng bất
cứ giá nào.
Trong việc giữ gìn chính sách ôn hòa truyền thống, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa
sẵn sàng giải quyết,
qua thương thảo, các tranh chấp quốc tế có thể xảy ra về các đảo này, nhưng điều đó không có nghĩa là chấp nhận từ
bỏ chủ quyền
trên bất cứ phần nào thuộc lãnh thổ Việt Nam”.
“Hết
trích”
Phúc
Linh
Các nguồn dư luận
Có nhiều
bài viết, nhiều hội luận nói về chủ quyền về phương diện lịch sử của Việt
Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa, chúng tôi không đề cập lại trong bài viết này, chỉ xin viện dẫn một số ý kiến
đặc biệt phân tích gíá trị và hiệu lực
pháp lý của bản Công hàm ngày 14/09/1958 đối với Việt Nam cũng như quốc tế, về
chủ quyền lãnh thổ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, dưới đây:
1/ Phỏng vấn của đài BBC dành cho Tiến sĩ
Balazs Szalontai
Tiến sĩ Balazs Szalontai từng dạy ở Đại học Khoa học
Công nghệ Mông Cổ và hiện là một nhà nghiên cứu độc lập ở Hungary. Ông là
tác giả cuốn sách Kim Nhật Thành trong thời kỳ Khruschev (Đại học Stanford và
Trung tâm Woodrow Wilson xuất bản, 2006)
BBC: Theo nhận định của ông, lá thư của
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được viết trong hoàn cảnh nào?
Tiến
sĩ Balazs Szalontai: Trước tiên, ta nói về tuyên bố của
Trung Quốc. Nó ra đời trong bối cảnh có Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Luật Biển
năm 1956 và các hiệp định được ký sau đó năm 1958. Lẽ dễ hiểu, Trung Quốc, mặc
dù không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc, cũng muốn có tiếng nói về cách
giải quyết những vấn đề đó. Vì lẽ đó ta có tuyên bố của Trung Quốc tháng Chín
1958.
Như
tôi nói ở trên, trong những năm này, Bắc Việt không thể làm phật ý Trung Quốc.
Liên Xô không cung cấp đủ hỗ trợ cho công cuộc thống nhất, trong khi Ngô Đình
Diệm ở miền Nam và chính phủ Mỹ không sẵn sàng đồng ý tổ chức bầu cử như đã ghi
trong Hiệp định Geneva. Phạm Văn Đồng vì thế cảm thấy cần ngả theo Trung Quốc.
Dẫu
vậy, ông ấy có vẻ đủ thận trọng để đưa ra một tuyên bố ủng hộ nguyên tắc rằng
Trung Quốc có chủ quyền đối với hải phận 12 hải lý dọc lãnh thổ của họ, nhưng
tránh đưa ra định nghĩa về lãnh thổ này. Mặc dù tuyên bố trước đó của Trung Quốc
rất cụ thể, nhắc đến toàn bộ các đảo bao gồm Trường Sa và Hoàng Sa mà Bắc Kinh
nói họ có chủ quyền, thì tuyên bố của Bắc Việt không nói chữ nào về lãnh hải cụ
thể được áp dụng với quy tắc này.
Dù
sao trong tranh chấp lãnh thổ song phương này giữa các quyền lợi của Việt Nam
và Trung Quốc, quan điểm của Bắc Việt, theo nghĩa ngoại giao hơn là pháp lý, gần
với quan điểm của Trung Quốc hơn là với quan điểm của miền Nam Việt Nam.
BBC: Ngoài ra người ta còn nghe nói đến một tuyên bố
tán thành với Trung Quốc của Ung Văn Khiêm, đưa ra năm 1956 khi ông này là Thứ
trưởng Ngoại giao của Bắc Việt. Phía Trung Quốc đã công khai viện dẫn đến tuyên
bố này. Nó có giúp ta hiểu thêm về lá thư của ông Phạm Văn Đồng?
Tiến sĩ Balazs Szalontai: Theo trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc,
vào giữa năm 1956, Ung Văn Khiêm đã nói với đại biện lâm thời của Trung Quốc rằng
Hoàng Sa và Trường Sa về mặt lịch sử đã thuộc về lãnh thổ Trung Quốc.
Ban đầu tôi nghi ngờ sự chân thực của tuyên bố
này. Năm 2004, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thậm chí xóa đi những chương tranh cãi
của lịch sử Triều Tiên khỏi trang web của họ. Tức là họ sẵn sàng thay đổi quá
khứ lịch sử để phục vụ cho mình.
Tôi cũng chấp nhận lý lẽ rằng nếu ông Khiêm quả
thực đã nói như vậy, thì có nghĩa rằng ban lãnh đạo Bắc Việt thực sự có ý định
từ bỏ chủ quyền của Việt Nam
đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng nay tôi nghĩ khác, mà một lý do là vì tôi
xem lại các thỏa thuận biên giới của Mông Cổ với Liên Xô.
Tôi nhận ra rằng tuyên bố của Ung Văn Khiêm thực ra không có tác dụng ràng buộc.
Trong hệ thống cộng sản, tuyên bố của một quan chức
như ông Khiêm được coi như đại diện cho quan điểm chính thức của ban lãnh đạo.
Nhưng ban lãnh đạo cũng có thể bỏ qua ông ta và những tuyên bố của ông ta bằng
việc sa thải theo những lý do có vẻ chả liên quan gì. Đó là số phận của Ngoại
trưởng Mông Cổ Sodnomyn Averzed năm 1958. Trong lúc đàm phán về biên giới Liên
Xô – Mông Cổ, ông ta có quan điểm khá cứng rắn, và rất có thể là vì ông ta làm
theo chỉ thị của ban lãnh đạo. Nhưng khi Liên Xô không chịu nhả lại phần lãnh
thổ mà Mông Cổ, chỉ trích “thái độ dân tộc chủ nghĩa” của Averzed, và đòi Mông
Cổ cách chức ông ta.
Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai là người nhận thư
của Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng năm 1958.
Trong
trường hợp Ung Văn Khiêm, ông ta khi ấy chỉ là thứ trưởng, và chỉ có một tuyên
bố miệng trong lúc nói riêng với đại biện lâm thời của Trung Quốc.
Trong hệ
thống cộng sản, tuyên bố miệng không có cùng sức mạnh như một thông cáo viết sẵn
đề cập đến các vấn đề lãnh thổ. Nó cũng không có sức nặng như một tuyên bố miệng
của lãnh đạo cao cấp như thủ tướng, nguyên thủ quốc gia hay tổng bí thư.
Rõ ràng
các lãnh đạo Bắc Việt không ký hay nói ra một thỏa thuận nào như vậy, vì nếu
không thì Trung Quốc đã công bố rồi.
BBC: Theo ông, lá thư của Phạm Văn Đồng có ý nghĩa
pháp lý nào không?
Tiến sĩ Balazs Szalontai: Nó khiến cho quan điểm của Việt Nam bị yếu đi một
chút, nhưng tôi cho rằng nó không có sức nặng ràng buộc.
Theo tôi, việc các tuyên bố của Trung Quốc nhấn mạnh
nguyên tắc “im lặng là đồng ý” không có mấy sức nặng.
Chính phủ miền Nam Việt Nam đã công
khai phản đối các tuyên bố của Trung Quốc và cố gắng giữ các đảo, nhưng họ
không ngăn được Trung Quốc chiếm Hoàng Sa. Trung Quốc đơn giản bỏ mặc sự phản đối
của Sài Gòn. Nếu Hà Nội có phản đối lúc đó, kết quả cũng sẽ vậy thôi.
2/ Tác giả Lữ Giang
Tác giả Lữ Giang có hai bài
viết về bản Công hàm ngày 14/09/1958 của ông cố Thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng, đó là các bài “Trở lại chuyện bán đất” và “Công hàm Phạm
Văn Đồng”
Bài viết “Trở lại chuyện bán đất”
Văn kiện mang tên “Chủ
quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo Tây Sa và Nam Sa” được
tạp chí Beijing Review in lại trong số ra ngày 18.2.1980, trong đó nói rõ Hà Nội
đã thỏa hiệp được với Bắc Kinh trong quá khứ về việc này như sau:
“Vào
tháng 6 năm 1956, hai năm sau khi chính phủ của ông Hồ Chí Minh đã thành lập tại
Hà Nội, Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Ung Văn Khiêm đã nói với ông Li Zhimin,
tham tán sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, rằng theo dữ liệu của Việt Nam thì đảo Tây Sa (tức Paracels, Hoàng Sa) và đảo
Nansha (tức Spratleys, Trường Sa) là một phần thuộc Trung Quốc theo lịch sử”.
Những sự kiện được tiết lộ trên cho thấy Đảng CSVN đã đồng
ý giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc để đổi lấy việc Trung Quốc viện trợ
đầy đủ cho Đảng CSVN chiếm miền Nam Việt Nam.
Từ tháng 8 năm 1956, Lê Duẩn,
Bí Thư Xứ Ủy Nam Bộ, đã viết “Đề Cương Cách Mạng Miền Nam”. Tháng 1 năm
1959 Hội Nghị Trung Ương Đảng CSVN lần thứ 15 đã ra nghị quyết “giải phóng
miền Nam”.
Tuy nhiên, sau khi
chiếm được miền Nam rồi, vào khoảng cuối năm 1975, Việt Nam bắt đầu giành quyền
kiểm soát một phần quần đảo Trường Sa, còn Hoàng Sa hoàn toàn do Trung Quốc nắm
giữ.
Đến năm 1977, cựu Thủ tướng Phạm văn Đồng giải
thích về quan điểm của ông hồi năm 1958 rằng “đó là thời chiến và ông phải nói như vậy
thôi”.
GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG HÀM
Trong một vài bài
trước đây, chúng tôi có viết rằng công hàm ngày 14.9.1958 của Thủ Tướng Phạm
Văn Đồng không có giá trị pháp lý vì hai lý do sau đây:
Lý do thứ nhất: Lúc đó hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa
thuộc VNCH. Tục giao pháp lý Latin có câu: “Nemo
dat quod non habet”, tức không ai cho cái mình không có. Hoàng
Sa và Trường Sa không thuộc miền Bắc nên Đảng CSVN không thể giao cho Trung Quốc
được.
Lý do thứ hai: Điều 23 của Hiến Pháp ngày 9.11.1946
quy định: “Nghị viện nhân dân (tức quốc hội)… chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài.”
Công hàm ngày 14.9.1958 không được quốc hội phê chuẩn nên
không có giá trị.
Tuy nhiên, sau khi
nghiên cứu lại luật lý, chúng tôi thấy công hàm ngày 14.9.1958 của Thủ Tướng Phạm
Văn Đồng chỉ là một lời hứa bán (promesse
de vente): Hà
Nội hứa với Bắc Kinh rằng nếu Bắc Kinh viện trợ cho Hà Nội đầy đủ phương tiện để
chiếm miền Nam, sau khi chiếm được, Hà Nội sẽ giao Hoàng Sa và Trường Sa cho
Trung Quốc.
Theo luật, học lý và án lệ của cả hai hệ thống Roman Law (áp
dụng tại hầu hết các nước trên thế giới) và Common Law (hệ thống Anh Mỹ),
lời hứa bán này có giá trị.
Như chúng tôi đã
trình bày, hệ thống Roman Law áp dụng nguyên tắc “Promesse
de vente vaut vente”, tức hứa bán có giá trị như bán với hai điều
kiện sau đây:
(1) Vật hứa bán đã được xác định,
trong trường hợp này là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
(2) Giá bán cũng đã được thỏa thuận,
trong trường hợp này, Trung Quốc cam kết viện trợ cho Hà Nội đủ phương tiện
đánh chiếm miền Nam. Do đó, sau khi chiếm
được miền Nam, Hà Nội phải giao nạp Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.
Hệ thống Common Law
xây dựng nguyên tắc “promissory estoppel”
(sự ngăn chận việc làm trái với lời hứa). Theo nguyên tắc này, một lời hứa
có giá trị ràng buộc nếu hội đủ các điều kiện sau đây:
(1)
Người hứa (promisor) có thể nghĩ một
cách hợp lý rằng người được hứa (promisee)
tin tưởng vào lời hứa đó.
(2)
Trong thực tế người được hứa
đã tin cậy vào lời hứa đó (the promisee in fact has
relied on that promise).
(3)
Sự bất công chỉ có thể
tránh được qua việc bắt buộc thực hiện lời hứa (Injustice can
be avoided only through
enforcement of the promise).
Khi
ba điều kiện nói trên hội đủ, người hứa phải thực hiện lời hứa của mình, và lời hứa đó được coi như là một hợp đồng (contract), mặc dầu trong thực tế không có một hợp đồng nào được ký
kết theo phương thức bình thường.
Như vậy, dù áp dụng
nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente”,
trong hệ thống Roman Law hay nguyên tắc “promissory
estoppel” trong Common Law, sau
khi chiếm được miền Nam, Hà Nội phải giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Bắc Kinh theo
công hàm ngày 14.9.1956 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng.
NHỮNG KHÓ KHĂN GẶP PHẢI
Như chúng tôi đã
trình bày, muốn có quyền sở hữu chấp hữu
(possessary title) các hoang đảo trên biển, cần phải hội đủ ít nhất hai
yếu tố sau đây:
(1) Sự chấp hữu phải
hoà bình (paisible), tức không
có sự đối kháng của bên khác,
(2) Sự chấp hữu phải liên tục và không gián đoạn
(continue et non interrompue).
Trung Quốc nói họ đã
chấp hữu các đảo trên Biển Đông từ 2000 năm về trước nhưng lại không chứng minh
được họ đã chấp hữu liên tục và không gián đoạn.
Trung Quốc lại dùng vũ lực để chiếm quần đảo
Hoàng Sa năm 1974 và 6 đảo thuộc quần đảo Trường Sa năm 1988. Sự chấp hữu này
không thể được coi là hòa bình.
Cho dù công hàm ngày 14.9.1956 có hiệu lực thì cũng chỉ có thể đem đối
kháng với Việt Nam mà thôi, không thể đem đối kháng với Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines
được. Đây cũng là một lý do khiến Trung Quốc chủ trương chỉ đàm phán
song phương.
Việt Nam đã thật sự chấp hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa kể thừ thời Pháp thuộc cho đến năm 1974, tức hơn 90 năm. Nhưng Việt Nam đã
chấp hữu hai quần đảo này dưới họng súng của Pháp và của Mỹ, nên cũng không thể
được coi là đã chấp hữu hoà bình.
Bài viết “Công hàm Phạm Văn Đồng”
Ngày 20.7.2011, báo Đại Đoàn Kết ở trong nước đã cho phổ biến bài “Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và
Trường Sa của Việt Nam” của nhóm PV Biển Đông. Bài này được các báo chí trong nước đăng lại và phổ
biến rộng rãi. Nội dung của bài báo gồm hai điểm chính:
Trước hết,
bài báo phản bác lập luận của Trung Quốc cho rằng bằng công hàm ngày 14.9.1958
chính phủ Việt Nam đã công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Bài
báo nói Trung Quốc đã “giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi
những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ
quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.”
1.- Bối cảnh thật sự của Hà Nội lúc đó
Bối cảnh “phức tạp và cấp bách” của Hà Nội lúc đó không phải là các vấn đề
của Trung Quốc mà Hà Nội đã nêu ra. Bối cảnh thật sự của Hà Hội lúc đó là cần
có viện trợ của Trung Quốc để đánh chiếm miền Nam. Nhưng theo Hà Nội, lúc đó
Trung Quốc chủ trương “trường kỳ mai phục”, “tích trữ lương thực” “chờ đợi thời
cơ”… chứ không cho đánh liền. Vì thế, Hà Nội phải chấp nhận trao hai quần đảo
Hoàng Sa và Truờng Sa cho Trung Quốc để đổi lấy viện trợ đánh chiếm miền Nam.
Sau khi có sự hứa hẹn của Trung Quốc, tháng 1 năm 1959, Hội Nghị lần thứ 15
của Trung Ương Đảng đã họp và đưa ra quyết định “giải phóng miền Nam”.
Tài liệu của Trung Quốc cho biết trong chuyến
bí mật viếng thắm Bắc Kinh vào tháng 4/1965 cùng với Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn đã
nói với Lưu Thiếu Kỳ, đại diện Trung Ương Đảng CSTQ rằng Việt Nam “luôn luôn
tin tưởng rằng Trung Quốc là người bạn đáng tin cậy nhất của Việt Nam,” và “sự
giúp đỡ của Trung Quốc cho Việt Nam luôn đứng đầu về số lượng cũng như chất lượng.”
Lưu Thiếu Kỳ cám ơn Lê Duẩn và nói với Lê Duẩn rằng “chính sách của Đảng Trung
Quốc trước sau như một, và Trung Quốc sẽ thỏa mãn tối đa những gì mà mà Việt
Nam cần.” Tiếp theo, ngày 16.5.1965, Hồ Chí Minh lại qua Trung Quốc gặp Mao Trạch
Đông tại Trường Sa, tỉnh lỵ của tỉnh Hồ Nam, và nói với Mao về những gì Việt
Nam cần để có thể gửi người đi chiến đấu tại miền Nam. Mao hứa sẽ cung cấp “bất
cứ sự trợ giúp nào mà Việt Nam cần.”
……………………………
Sau đó, bài báo
gián tiếp trả lời bài “Trở lại chuyện
bán đất” của chúng tôi phổ biến ngày 13.7.2011, trong
đó chúng tôi dựa vào hai luật lý để nói rằng công hàm của Thủ Tướng Văn Đồng có
tính cách ràng buộc. Bài báo cho rằng công hàm đó không hội đủ điều kiện để áp
dụng thuyết “promissory estoppel” (sự ràng buộc
của lời hứa) mà chúng tôi đưa ra.
……………..
4.- Sự ràng buộc của lời hứa
Đại Đoàn Kết đã lặp lại hai lý do mà chúng tôi
đã đưa ra từ lâu để cho rằng Công Hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng không có giá
trị pháp lý.
Lý do thứ nhất: Lúc đó hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc VNCH. Tục
giao pháp lý Latin có câu: “Nemo dat quod non habet”, tức không ai cho cái mình
không có. Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc miền Bắc nên Đảng CSVN không thể
giao cho Trung Quốc được.
Lý do thứ hai: Điều 23 của Hiến Pháp ngày 9.11.1946 quy định: “Nghị viện
nhân dân (tức quốc hội)… chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài.”
Công hàm ngày 14.9.1958 không được quốc hội phê chuẩn nên không có giá trị.
Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu lại luật lý, chúng tôi thấy Công Hàm của Thủ
Tướng Phạm Văn Đồng chỉ là một lời hứa bán (promesse de vente): Hà Nội hứa với Bắc Kinh rằng nếu Bắc Kinh viện trợ cho Hà
Nội đầy đủ phương tiện để chiếm miền Nam, sau khi chiếm được, Hà Nội sẽ giao
Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.
Trong bài “Trở lại chuyện bán đất”, chúng tôi đã đưa ra hai học lý để chứng
minh rằng trên một khía cạnh, công hàm ngày 14.9.1958 có thể bị coi như có giá
trị cưỡng hành, đó là nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente” (Hứa bán có giá
trị như bán) trong hệ thống Roman Law và nguyên tắc “promissory estoppel” (sự
ngăn chận việc làm trái với lời hứa) trong Common Law
.
Báo Đại Đoàn Kết nhìn nhận theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý
nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại
trừ thuyết “estoppel”, nhưng cho rằng lời tuyên bố của VNDCCH thiếu 2 điều kiện
nên không thể áp dụng thuyết này được, đó là:
(1) Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời
tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc
không hoạt động;
(2) Quốc gia nại “estoppel” cũng phải
chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại,
hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.
Nếu lý luận kiểu này, Trung Quốc có thể chứng minh dễ dàng hai điều kiện
nói trên đã hội đủ:
a/ Dựa vào Công
Hàm của Phạm Văn Đồng, Trung Quốc đã viện trợ cho Hà Nội
đầy đủ để đánh chiếm Miền Nam và
b/ Trung Quốc đã
bị thiệt hại lớn khi Việt Nam không thực hiện lời hứa sau khi đã
chiếm Miền
Nam.
Sợ Hà Nội sẽ lật lộng, Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa trước
khi Hà Nội chiếm Miền Nam.
Như vậy, dù áp dụng nguyên
tắc “Promesse de vente
vaut vente”, trong hệ thống Roman Law hay nguyên tắc “promissory estoppel”
trong Common Law, sau khi chiếm được miền Nam, Hà Nội phải giao Hoàng Sa và Trường
Sa cho Bắc Kinh theo công hàm ngày 14.9.1956 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng.
3/
Tiến sĩ Từ Đặng Minh Thu
(Giáo sư Đại học Luật khoa
Sorbonne, Pháp)
“ Tuy nhiên, có tác giả đã nêu thuyết
“estoppel” để khẳng định những
lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam, và Việt Nam bây giờ không
có quyền nói ngược lại.
Theo luật quốc tế, không có một văn
bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó
buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”.
Điều 38 Quy chế Toà án Quốc tế không
liệt kê những lời tuyên bố đơn phương trong danh sách những nguồn gốc của luật
pháp quốc tế.
Estoppel là một nguyên tắc theo đó một quốc gia không có quyền nói hoặc hoạt động
ngược lại với những gì mình đã nói hoặc hoạt động trước kia. Câu tục ngữ
thường dùng để định nghĩa nó là “one cannot at the same time blow hot and
cold.” Nhưng thuyết estoppel không có nghĩa là cứ tuyên bố một điều gì đó thì
quốc gia tuyên bố phải bị ràng buộc bởi lời tuyên bố đó.
Thuyết estoppel bắt nguồn từ hệ thống luật quốc nội của Anh,
được thâu nhập vào luật quốc tế.
Mục đích chính của nó ngăn chặn trường
hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó,
gây thiệt hại cho quốc gia khác.
Vì
vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính:
1. Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc
cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch
(clair et non equivoque).
2. Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa
trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động
nào đó, hoặc không hoạt động. Yếu tố này trong luật quốc nội Anh-Mỹ
gọi là “reliance”.
3. Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng,
vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia
kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.
4. Nhiều bản
án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục
và trường kỳ. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án “Những
hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án “Ngôi đền Preah
Vihear”,…
Ngoài ra, nếu
lời tuyên bố đơn phương có tính chất một lời hứa, nghĩa là quốc gia tuyên bố
mình sẽ làm hoặc không làm một việc gì, thì quốc gia phải thực sự có ý định muốn bị
ràng buộc bởi lời hứa đó, thực sự muốn thi hành lời hứa đó.
Thuyết
estoppel với những điều kiện trên đã được án lệ quốc tế áp dụng rất nhiều.
Trong bản án “Thềm lục địa vùng Biển Bắc” giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Đan Mạch/Hà
Lan, Toà án quốc tế đã phán quyết rằng estoppel không áp dụng cho Cộng hòa Liên
bang Đức, mặc dù quốc gia này đã có những lời tuyên bố trong quá khứ nhằm công
nhận nội dung của Công ước Genève 1958 về thềm lục địa, vì Đan Mạch và Hà Lan
đã không bị thiệt hại khi dựa vào những lời tuyên bố đó.
Trong bản án “Những hoạt động quân sự và
bán quân sự tại Nicaragua” giữa Nicaragua và Mỹ, Toà đã phán quyết như sau: “…
‘Estoppel’ có thể được suy diễn từ một thái độ, những lời tuyên bố của một quốc
gia, nhằm chấp nhận một tình trạng nào đó; thái độ hoặc lời tuyên bố không những
phải được phát biểu một cách rõ rệt và liên tục, mà còn phải khiến cho một hoặc
nhiều quốc gia khác dựa vào đó mà thay đổi hoạt động, và do đó phải chịu thiệt
hại”.[78]
Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời
tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2/ và 3/
đã nêu ở trên.
Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc
thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và
Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào
những lời tuyên bố đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không được hưởng lợi gì
khi có những lời tuyên bố đó. Lúc đó hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa rất thân
thiện, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Những lời tuyên bố của Thủ tướng
Phạm Văn Đồng hoàn toàn do tình hữu nghị Hoa-Việt.
Hơn nữa, lời văn của bản tuyên bố không hề nói rõ ràng minh bạch là công
nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa. Bức công hàm chỉ nói: “Chính phủ
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy (quyết định ấn định lãnh
hải 12 dặm của Trung Quốc), và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm
triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc…”.
Lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm
Văn Đồng cũng có thể hiểu là một lời hứa đơn phương, một lời tuyên bố ý định sẽ
làm một việc gì (declaration d’intention). Thật vậy, đây là một lời hứa
sẽ tôn trọng quyết định của Trung Quốc trong việc ấn định lãnh hải của Trung Quốc,
và một lời hứa sẽ ra lệnh cho cơ quan công quyền của mình tôn trọng lãnh hải đó
của Trung Quốc.
Một lời hứa thì lại càng khó ràng buộc quốc gia đã hứa.
Toà án Quốc tế
đã ra thêm một điều kiện nữa để ràng buộc một lời hứa: đó là ý chí thực sự
của một quốc gia đã hứa. Nghĩa là quốc gia đó có thực sự muốn bị
ràng buộc bởi lời hứa của mình hay không.
Để
xác định yếu tố “ý chí” (intention
de se lier), Toà xét tất cả những dữ kiện xung quanh lời tuyên bố đó, xem nó
đã được phát biểu trong bối cảnh, trong những điều kiện nào (circonstances).
Hơn
nữa, nếu thấy quốc gia đó có thể tự ràng buộc mình bằng cách ký thoả ước với quốc
gia kia, thì lời tuyên bố đó là thừa, và Toà sẽ kết luận là quốc gia phát biểu
không thực tình có ý muốn bị ràng buộc khi phát biểu lời tuyên bố đó. Vì vậy, lời
tuyên bố đó không có tính chất ràng buộc.
Trong bản án “Những
cuộc thí nghiệm nguyên tử” giữa Úc/Tân Tây Lan và Pháp, Pháp đã tuyên bố là sẽ
ngừng thí nghiệm nguyên tử. Toà án đã phán quyết rằng Pháp bị ràng buộc bởi lời
hứa vì Pháp thực sự có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó.
Trong trường
hợp Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi tuyên bố sẽ tôn trọng lãnh hải của
Trung Quốc, không hề có ý định nói đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường
Sa.
Ông
đã phát biểu những lời tuyên bố trên trong tình trạng khẩn trương, chiến tranh
với Mỹ bắt đầu leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động trên eo biển Đài Loan và
đe doạ Trung Quốc. Ông đã phải lập tức lên tiếng để ủng hộ Trung Quốc nhằm gây
một lực lượng chống đối lại với mối đe doạ của Mỹ.
Lời tuyên bố năm 1965 của Chính
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như vậy. Động lực của lời tuyên bố đó là
tình trạng khẩn trương, nguy ngập ở Việt Nam. Đây là những lời tuyên bố có tính
chính trị, chứ không phải pháp lý.
Nếu xét yếu tố liên
tục và trường kỳ thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không hội
đủ tiêu chuẩn này.
Estoppel chỉ đặt ra nếu chấp nhận giả
thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một; và cả Pháp trong thời kỳ thuộc địa, và Việt
Nam Cộng hoà trước năm 1975 cũng là một đối với Việt Nam hiện thời.
Nếu xem như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
là một quốc gia riêng biệt với Việt Nam hiện thời, thì estoppel không áp dụng,
vì như đã nói ở trên, lời tuyên bố sẽ được xem như lời tuyên bố của một quốc
gia không có quyền kiểm soát trên lãnh thổ tranh chấp.
Như vậy, nếu xem Việt Nam nói chung như
một chủ thể duy nhất từ xưa đến nay, thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa chỉ là một sự phát biểu có ý nghĩa chính trị trong đoản kỳ thời chiến, so với
lập trường và thái độ của Việt Nam nói chung từ thế kỷ XVII đến nay.
Tóm lại, những lời tuyên bố mà chúng ta đang phân tích thiếu nhiều yếu tố để có
thể áp dụng thuyết estoppel.
Yếu tố “reliance” (tức là quốc gia kia có
dựa vào lời tuyên bố của quốc gia này mà bị thiệt hại), và yếu tố “ý chí” (tức
là quốc gia phát biểu lời hứa có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó) rất quan
trọng.
Không có “reliance” để giới hạn sự áp dụng
của estoppel thì các quốc gia sẽ bị cản trở trong việc hoạch định chính sách
ngoại giao. Các quốc gia sẽ phải tự ép buộc cố thủ trong những chính sách ngoại
giao lỗi thời. Khi điều kiện chung quanh thay đổi, chính sách ngoại giao của quốc
gia kia thay đổi, thì chính sách ngoại giao của quốc gia này cũng phải thay đổi.
Các quốc gia đổi bạn thành thù và đổi thù thành bạn là chuyện thường.
Còn những lời hứa đơn phương trong đó
quốc gia không thật tình có ý muốn bị ràng buộc, thì nó chẳng khác gì những lời
hứa vô tội vạ, những lời hứa suông của các chính khách, các ứng cử viên trong
cuộc tranh cử.
Trong môi trường quốc tế, nguyên tắc “chủ
quyền quốc gia” (état souverain) rất quan trọng.
Ngoại trừ tục lệ quốc tế và những điều
luật của Jus Congens, không có luật nào ràng buộc quốc gia ngoài ý muốn
của mình, khi mà quốc gia này không gây thiệt hại cho quốc gia nào khác.
Vì vậy ý chí của quốc gia đóng một
vai trò quan trọng trong việc quyết định tính chất ràng buộc của một lời hứa
đơn phương”.
……………………..
“Những lời tuyên bố trên không có hiệu lực
vì trước năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không quản lý những đảo này. Lúc
đó, những đảo này nằm dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng hoà; mà các chính phủ
Việt Nam Cộng hoà luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo.”
Và
“…đứng trên phương diện thuần pháp lý, nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp.
Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan,
Việt Nam Cộng hoà và Philippin. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ
tranh chấp.”
…………
“Ngày nay theo luật quốc tế, sự chiếm
hữu lãnh thổ phải bao gồm cả hai yếu tố vật chất và tinh thần.
·
Yếu tố vật chất
được thể hiện qua việc chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền trên lãnh thổ đó.
Điều này có nghĩa là quốc gia chiếm hữu phải có sự hiện diện thường trực trên
lãnh thổ được chiếm hữu, và phải có những hoạt động hoặc những hành vi có tính
quốc gia đối với lãnh thổ đó. Sự hành xử chủ quyền phải có tính liên tục.
·
Còn yếu
tố tinh thần có nghĩa là quốc gia phải có ý định
thực sự chiếm hữu mảnh đất đó.
Phải hội đủ hai yếu tố vật chất và
tinh thần trên thì sự chiếm hữu mới có hiệu lực.
Và sự
từ bỏ lãnh thổ cũng phải hội đủ cả hai yếu tố: vật
chất, tức là không hành xử chủ quyền trong một thời gian dài, và tinh
thần, tức là có ý muốn từ bỏ mảnh đất đó.
Phải hội đủ cả hai yếu tố: từ bỏ vật chất và từ bỏ tinh thần thì lãnh thổ đó mới được xem như bị từ bỏ, và
trở lại quy chế vô chủ”.
Phúc Linh
Phần
VI
Phân tích sự kiện
Trước hết,
xin điểm qua định nghĩa của một số từ ngữ:
Lãnh thổ là gì? Lãnh thổ
là đất đai thuộc chủ quyền của một nước.
Nội thủy là gì? Nội thủy là vùng nước biển nằm giữa đất liền và đường cơ
sở
Lãnh hải là gì? Lãnh hải hoặc hải phận 12 hải lý, là vùng biển ven bờ nằm kế tiếp vùng nước nội
thủy.
Lãnh hải và lãnh thổ là hai phần
riêng biệt, có thể tạm so sánh như mảnh đất và những căn nhà nằm trên mảnh đất
đó, có những trường hợp chủ nhà cũng là chủ đất, chủ đất cũng là chủ nhà, nhưng
cũng có những trường hợp chủ nhà không
phải là chủ đất, và chủ đất không phải là chủ nhà, cũng có trường hợp nhiều căn
nhà thuộc nhiều chủ khác nhau và nằm trên cùng một mảnh đất . Trước pháp lý, chủ
quyền sẽ được định rõ.
Vùng tiếp giáp lãnh hải là gì? Vùng biển
kế tiếp lãnh hải 12 hải lý là vùng tiếp giáp lãnh hải, cũng có chiều rộng 12 hải
lý. Quốc gia chủ quyền vẫn có chủ quyền trong vùng này về kiểm soát tàu có nghi
vấn nhập cư bất hợp pháp và buôn lậu.
Như vậy, mỗi quốc gia có quyền kiểm soát an ninh trong phạm vi 24 hải
lý tính từ đường cơ sở .
Đường cơ sở là gì? Những người ở ven biển
biết rõ nước biển sẽ từ từ rút ra xa bờ vào buổi chiều, đến đêm, mực nước biển
sẽ xuống mức thấp nhất, sau đó, mực nước biển bắt đầu lên trở lại.
Chỗ mức nước biển xuống thấp nhất, gọi là “đường cơ sở” được mỗi quốc gia theo dõi nhiều năm liên tục để qui định đường cơ
sở cho chính xác.
Đường cơ sở không phải là đường thẳng vì bờ biển không phải là đường thẳng,
mà là đường cong, có chỗ lồi ra, có chỗ lõm vào. Mọi sự đo đạc vùng biển thuộc
chủ quyền quốc gia đều bắt đầu được tính
từ đường cơ sở.
Ví dụ Lãnh hải 12 hải lý của mỗi quốc gia, không phải được
đo đạc từ vùng đất liền của bờ biển, mà bắt đầu tính từ đường cơ sở hoặc 200 hải
lý không phải tính từ đường cơ sở của hải đảo, mà tính từ dường cơ sở của lãnh
thổ đất liền .
Kính thưa quí vị,
Công
hàm là một văn kiện ngoại giao.
Theo thủ tục qui định hiện tại của Cục Lãnh sự Bộ Ngoại
giao CSVN, người dân phải làm thủ tục xin Công hàm của Bộ Ngoại giao để “xin thị thực nhập cảnh nước đến”. Căn cứ vào đề nghị của bản Công hàm mà Tòa Đại
sứ của nước đến sẽ cứu xét đơn xin thị thực nhập cảnh và có thẩm quyền chấp thuận hoặc từ chối cấp chiếu khán thị thực
nhập cảnh mặc dù có Công hàm của Việt Nam yêu cầu. Do đó, một bản Công hàm chỉ có giá trị tương
đối.
I/ CSVN không có tư cách và thẩm quyền
Những người gọi bản Công
hàm ngày 14/09/1958 là “bản Công hàm bán
nước” vì bản Công hàm đó là chứng cớ CSVN bán đã bán Hoàng Sa – Trường Sa cho
Trung Cộng.
Khi quí vị nói bản Công hàm
có ý nghĩa chấp nhận toàn văn bản Quyết Nghị ngày 04/09/1958 của Quốc vụ viện
Trung Cộng, phải chăng quí vị muốn nói là CSVN đã chấp nhận Đài loan (Trung hoa
quốc gia), vùng biển đường Lưỡi bò chiếm 80% diện tích Biển Đông, và các quần đảo
Tây Sa – quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa.. tất cả đều thuộc chủ quyền của
Trung Cộng???
Trung Hoa quốc gia
chỉ là một hòn đảo, nhưng đã được quốc tế công nhận là một quốc gia riêng biệt
với Trung Cộng. Xin hỏi quí vị ông Phạm
Văn Đồng – với bản Công hàm ngày 14/09/1958 - có tư cách và thẩm quyền xác nhận
Trung Hoa quốc gia là thuộc chủ quyền của Trung Cộng hay không?
Quần đảo Đông Sa
là mục tiêu tranh giành của Trung Cộng và Trung hoa quốc gia. Xin hỏi quí vị ông Phạm Văn Đồng – với bản
Công hàm ngày 14/09/1958 - có tư cách và thẩm quyền xác nhận quần đảo Đông Sa là thuộc chủ quyền của Trung Cộng hay không?
Quần đảo Trung Sa là mục tiêu
tranh chấp chủ quyền của 04 quốc gia gồm Trung Cộng, Đài Loan, Phi luật tân và
Việt Nam. Xin hỏi quí vị ông Phạm Văn Đồng – với bản
Công hàm ngày 14/09/1958 - có tư cách và thẩm quyền xác nhận quần đảo Trung Sa
là thuộc chủ quyền của Trung Cộng hay không?
Và câu trả lời là CSVN
không có tư cách và thẩm quyền xác nhận những điều như trên,
nói khác đi, suy nghĩ cho rằng bản Công hàm đó đã xác nhận lãnh thổ Hoàng Sa –
Trường Sa thuộc Trung Cộng là quá đáng.
Nguyên tắc căn bản là trong các văn kiện ngoại giao và pháp lý,
văn bản phải được hiểu và phải được giải thích theo nghĩa hẹp.
Từ ngữ “theo nghiã hẹp” khác với “theo nghĩa rộng”. “theo nghiã hẹp” nghĩa là văn bản đã được viết ra như thế nào,
thì phải hiểu trong giới hạn ý nghĩa của
từng chữ đó mà thôi, không được suy diễn
và giải thích nới rộng ý nghĩa của những từ ngữ đó.
Nguyên văn lời xác nhận như sau “Chính phủ nước
Việt Nam dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết
định về hải phận của Trung quốc và triệt
để tôn
trọng hải phận 12 hải lý của Trung quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng
hoà nhân dân Trung hoa trên mặt bể”.
Và cũng dựa
trên nguyên tắc “Giải thích theo nghĩa hẹp”
mà Giáo sư Luật trường Đại học
Sorbonne Từ Đặng Minh Thu viết : “ lời
văn của bản tuyên bố không hề nói rõ ràng minh bạch là công nhận chủ quyền của
Trung Quốc trên Hoàng Sa. Bức công hàm chỉ nói: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy (quyết định ấn định lãnh hải 12 dặm của Trung
Quốc), và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng
hải phận 12 hải lý của Trung Quốc…”.
Và tiến sĩ Balazs Szalontai viết “ Dẫu vậy, ông ấy có vẻ đủ thận trọng để đưa
ra một tuyên bố ủng hộ nguyên tắc rằng Trung Quốc có chủ quyền đối với hải phận
12 hải lý dọc lãnh thổ của họ, nhưng tránh đưa ra định nghĩa về lãnh thổ này. Mặc
dù tuyên bố trước đó của Trung Quốc rất cụ thể, nhắc đến toàn bộ các đảo bao gồm
Trường Sa và Hoàng Sa mà Bắc Kinh nói họ có chủ quyền, thì tuyên bố của Bắc Việt
không nói chữ nào về lãnh hải cụ thể được áp dụng với quy tắc này”.
II/ Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một
Giáo sư Tiến sĩ Luật Từ Đặng Minh Thu đã gợi ý rằng:
“ Estoppel
chỉ đặt ra nếu chấp nhận giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là một; và cả Pháp
trong thời kỳ thuộc địa, và Việt Nam Cộng hoà trước năm 1975 cũng là một đối với
Việt Nam hiện thời.
Nếu xem như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
là một quốc gia riêng biệt với Việt Nam hiện thời, thì estoppel không áp dụng, lời tuyên bố sẽ được
xem như lời tuyên bố của một quốc gia không có quyền kiểm soát trên lãnh thổ
tranh chấp.
Nếu
xem Việt Nam nói chung như một chủ thể duy nhất từ xưa đến nay, thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ
là một sự phát biểu có ý nghĩa chính trị trong đoản kỳ thời chiến, so với lập
trường và thái độ của Việt Nam nói chung từ thế kỷ XVII đến nay”.
Với gọi ý này, nếu nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam hiện nay là sự nối tiếp liên tục của nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam
và Việt Nam Cộng hòa, thì bản Công hàm và những tuyên bố của phía CSVN chĩ là lời nói chính trị mang tính chất ngoại
giao, không có hiệu lực pháp lý ràng buộc CSVN có trách nhiệm về lời nói của
mình.
Vì vậy, với ý đồ trên, CSVN đã bật đèn xanh để
cơ quan truyền thông trong nước cũng như người dân làm rình rang việc tuyên
dương hải quân VNCH đã chiến đấu với Trung Cộng và cho phép người dân trong nước
làm lễ truy điệu những chiến sĩ hải quân VNCH đã anh dũng hy sinh tánh mạng đền
nợ nước.
Điều này chỉ là một chiêu bài chính trị của CSVN
lợi dụng danh nghĩa những anh linh chiến sĩ hải
quân đã vị quốc vong thân, và chỉ làm trong giai đoạn này, vì hành vi
này dẫn đến hậu quả có ý nghĩa chính trị quốc tế:
A/ Làm
cho quốc tế hiểu rằng Hoàng Sa – Trường Sa thuộc quyền quản trị của Việt Nam Cộng
hòa xưa kia, VNCH là quốc gia thực sự có trách nhiệm bảo vệ, có bổn phận lên tiếng
trước dư luận quốc tế về Hoàng Sa – Trường Sa, và chính phủ VNCH đã luôn khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa là của
Việt Nam, quân đội VNCH đã anh dũng hy sinh để bảo vệ lãnh thổ.
Những gì mà chính phủ VNCH đã làm để bảo vệ
Hoàng Sa – Trường Sa, đã bao che (bao yểm)
cho sự im hơi lặng tiếng của CSVN trong suốt thời kỳ chiến tranh Nam – Bắc.
B/ Và sau
khi chiếm được miền Nam, CSVN lại nối tiếp việc làm của chính phủ VNCH, tiếp tục
khẳng định chủ quyền quốc gia Việt Nam đối với Hoàng Sa – Trường Sa.
CSVN muốn quốc tế hiều rằng trong suốt chiều dài lịch sử từ xưa cho đến
nay, Việt Nam luôn xác định
chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam.
Việt Nam chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường
Sa này.
“ Trích”
BÁO ĐẠI ĐOÀN KẾT, CƠ QUAN TW MTTQ THUỘC ĐẢNG CSVN "TÔN VINH CÁC CHIẾN SĨ VNCH"
Trận hải chiến bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974 (04/07/2011)
Sau khi quân Pháp rút khỏi
Đông Dương, theo Hiệp định Genève 1954, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đảm
nhiệm chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa cho đến khi Trung Quốc xâm chiếm bằng vũ
lực ngày 19-1-1974. Trận hải chiến bảo vệ quần đảo Hoàng Sa năm 1974 của Hải
quân VNCH là một bằng chứng lịch sử rõ ràng cho thấy Trung Quốc đã vi phạm
nghiêm trọng luật pháp quốc tế khi sử dụng vũ lực để cưỡng chiếm Hoàng Sa từ
tay VNCH đang thực thi chủ quyền lâu đời của Việt Nam theo luật pháp quốc tế và
việc liên tục thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này là một hiển
nhiên trong lịch sử.
![]() |
| Sơ đồ trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974 |
Trên thực tế khi ra tiếp quản quần đảo Hoàng Sa tháng 4-1956 từ quân đội Pháp,
Hải quân VNCH phát hiện Trung Quốc đã bí mật chiếm đóng trái phép các đảo phía
đông của quần đảo này. Kể từ đó cho đến khi diễn ra trận hải chiến 1974, vùng
biển Hoàng Sa của Việt Nam không còn bình yên truớc những diễn biến làm phức tạp
tình hình từ phía Trung Quốc.
Từ năm 1956,
Hải quân VNCH đã phát hiện ngư dân Trung Quốc nhiều lần xâm nhập trái phép các
đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa do chính quyền VNCH quản lý. Hiệp định Paris được
ký kết ngày 27-1-1973, chấm dứt mọi sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ tại Việt
Nam.
Hạm đội 7-
Thái Bình Dương của Hoa Kỳ cũng rút quân và các thiết bị ra khỏi vùng quần đảo
Hoàng Sa của Việt Nam. Kể từ đó, các hoạt động xâm nhập trái phép của Trung Quốc
lên các đảo trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam ngày càng gia tăng.
Để mở đầu cho kế hoạch gây chiến và đánh chiếm, ngày 11-1-1974 Trung Quốc đột ngột ra Tuyên bố phản đối việc chính quyền VNCH 4 tháng trước điều chỉnh sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy của Việt Nam và nhắc lại yêu sách vô lý của họ về chủ quyền trên toàn bộ các đảo và quần đảo ở Biển Đông, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa).
Để mở đầu cho kế hoạch gây chiến và đánh chiếm, ngày 11-1-1974 Trung Quốc đột ngột ra Tuyên bố phản đối việc chính quyền VNCH 4 tháng trước điều chỉnh sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy của Việt Nam và nhắc lại yêu sách vô lý của họ về chủ quyền trên toàn bộ các đảo và quần đảo ở Biển Đông, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa).
Ngay lập tức,
ngày 12-1-1974, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc của chính quyền VNCH ra Tuyên bố bác
bỏ yêu sách vô lý của Trung Quốc về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa. Ngày 16-1-1974, chính quyền VNCH tiếp tục ra Tuyên bố với những bằng chứng
rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử minh chứng chủ quyền lâu dài và liên tục của
Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Cũng trong
ngày 16-1-1974, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) khi đưa một phái đoàn ra
quần đảo Hoàng Sa để khảo sát xây dựng sân bay thì phát hiện hai chiến hạm của
Trung Quốc gần đảo Cam Tuyền và quân Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép, cắm cờ
Trung Quốc tại các đảo Quang Hòa, Duy Mộng, Vĩnh Lạc...
Nhận được tin
báo khẩn cấp, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH điều thêm chiến hạm ra quần đảo Hoàng Sa
để ngăn chặn các hoạt động xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên vùng biển này của
tàu chiến Trung Quốc với thái độ ôn hòa, kiềm chế. Cùng lúc đó, Trung Quốc cũng
đã điều động một lực lượng tàu chiến hùng hậu tiến về phía quần đảo Hoàng Sa,
trong đó có nhiều tàu đánh cá vũ trang và đổ bộ lên một số đảo trên quần đảo
Hoàng Sa của Việt Nam để cắm cờ.
Một số tàu cá
vũ trang của Trung Quốc còn bám theo các chiến hạm của Hải quân VNCH đang trên
đường ra Hoàng Sa, cản trở hành trình của các tàu Việt Nam bằng những hành động
khiêu khích.
![]() |
| Bốn chiến hạm của Hải quân VNCH đã tham dự trận hải chiến Hoàng Sa bảo vệ chủ quyền của Việt Nam năm 1974 (HQ-4, HQ-5, HQ-10, HQ-16) |
Ngày 17-1-1974, khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) đổ bộ một toán biệt hải lên đảo
Vĩnh Lạc để nhổ cờ Trung Quốc. Toán đổ bộ còn phát hiện một số ngôi mộ giả mới
đắp không hề có xương cốt với những tấm bia gỗ ghi chữ Trung Quốc với ngày sinh
và ngày chết hàng mấy chục năm về trước.
Theo các nhân
chứng, đêm 17 rạng sáng ngày 18-1-1974 là một đêm cực kỳ căng thẳng. Trung Quốc
tăng cường lực lượng và cố tình gia tăng sự khiêu khích, các chiến hạm của họ bắt
đầu tiến sâu vào vùng biển quần đảo Hoàng Sa.
Các tàu chiến
của Hải quân VNCH liên tục ra tín hiệu cảnh báo: "Đây là lãnh hải Việt
Nam, yêu cầu các ông hãy rời khỏi đây ngay”. Phía Trung Quốc cũng ra sức đáp trả
và cho rằng quần đảo Hoàng Sa là "lãnh hải” của Trung Quốc, họ lì lợm
không rút lui theo yêu cầu và cảnh báo ôn hòa từ phía Việt Nam.
Ngày
18-1-1974, chiến hạm HQ-4 tiến về phía đảo Cam Tuyền, đổ bộ một toán biệt hải
lên đảo lúc 8 giờ sáng. Sau khi hạ cờ Trung Quốc, toán đổ bộ phát hiện những
ngôi mộ giả do phía Trung Quốc mới đắp giống như trên đảo Vĩnh Lạc hôm trước. Đến
11giờ cùng ngày, nhận được tin báo có hai tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc
đang xâm nhập trái phép và tiến về quần đảo Hoàng Sa, các tàu HQ-4 và HQ-16 của
Hải quân VNCH ra ngăn chặn, dùng tín hiệu cảnh cáo và yêu cầu các tàu xâm nhập
trái phép ngay lập tức phải rút ra khỏi vùng biển Việt Nam. Nhưng hai tàu cá vũ
trang của Trung Quốc không chấp hành hiệu lệnh và cố tình khiêu khích, gây hấn.
Tàu HQ-4 tiến thẳng đến gần một tàu cá Trung Quốc, nhìn thấy rõ thủy thủ đoàn
trên tàu mặc đồng phục xanh dương đậm, có trang bị 2 súng đại liên và rất nhiều
súng tiểu liên cá nhân. Tàu HQ-4 quyết định áp sát mạn tàu đánh cá vũ trang của
Trung Quốc để xua đuổi và dùng loa phóng thanh hết cỡ yêu cầu họ ngay lập tức
rút khỏi vùng biển Việt Nam. Phía Trung Quốc cũng ra sức đáp trả bằng những lời
lẽ khiêu khích và gây hấn. Thấy không tác dụng, tàu HQ-4 dùng mũi ủi vào tàu
Trung Quốc. Trước thái độ cương quyết của Hải quân VNCH họ vội vàng tháo lui.
Chiến hạm HQ-16 cũng quyết liệt tham gia xua đuổi tiếp các tàu cá vũ trang còn
lại của Trung Quốc trong khu vực này.
Buổi chiều
cùng ngày, 3 chiến hạm của VNCH bao gồm tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16),
khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4), tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) được lệnh
sắp đội hình hàng dọc tiến về đảo Duy Mộng.
Khoảng 16giờ
cùng ngày, có hai tàu chiến của Trung Quốc tiến ra khiêu khích, cắt đường ngang
mũi các tàu HQ-4 và HQ-16. Do đội hình bị chia cắt, tàu của VNCH không thể tiến
lên được, khoảng cách của hai bên rất gần nhau, các khẩu đại bác trong tư thế sẵn
sàng chiến đấu nhưng các tàu của VNCH được lệnh phải hết sức kiềm chế và phải cố
gắng hết sức để thuyết phục phía Trung Quốc lui quân.
Đêm 18 rạng sáng 19-1-1974, tàu chiến và tàu đánh cá Trung Quốc vẫn tiếp tục gia tăng khiêu khích và ngày càng tiến đến gần quần đảo Hoàng Sa. Tàu HQ-4 phải dùng còi hơi thật to và đèn hồ quang thật sáng trên nóc đài chỉ huy rọi thẳng vào đội hình tàu Trung Quốc. Đến nửa đêm, hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) trong khi đang bị hỏng một máy chính chưa kịp sửa chữa, đã nhận lệnh ra Hoàng Sa tham gia đội hình chiến đấu. Khoảng 6 giờ sáng ngày 19-1-1974, Tàu HQ-4 đã tiến sát đảo Quang Hòa và trung đội biệt hải được lệnh đổ bộ khẩn cấp lên đảo.
Đêm 18 rạng sáng 19-1-1974, tàu chiến và tàu đánh cá Trung Quốc vẫn tiếp tục gia tăng khiêu khích và ngày càng tiến đến gần quần đảo Hoàng Sa. Tàu HQ-4 phải dùng còi hơi thật to và đèn hồ quang thật sáng trên nóc đài chỉ huy rọi thẳng vào đội hình tàu Trung Quốc. Đến nửa đêm, hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) trong khi đang bị hỏng một máy chính chưa kịp sửa chữa, đã nhận lệnh ra Hoàng Sa tham gia đội hình chiến đấu. Khoảng 6 giờ sáng ngày 19-1-1974, Tàu HQ-4 đã tiến sát đảo Quang Hòa và trung đội biệt hải được lệnh đổ bộ khẩn cấp lên đảo.
Theo ông Lữ
Công Bảy, nguyên là thượng sỹ giám lộ có mặt trên chiến hạm HQ-4 trong trận hải
chiến 1974, từ đài chỉ huy bằng ống nhòm, tàu HQ-4 đã phát hiện doanh trại mới
toanh, có cột cờ Trung Quốc (trước đó hơn một tháng tàu HQ-4 có dịp khảo sát đảo
này không hề thấy), như vậy Trung Quốc đã bí mật chiếm đảo mới đây.
Đài chỉ huy đồng
thời phát hiện một tàu Trung Quốc đang đổ bộ một đội quân rất đông lên phía bắc
đảo, những chiếc tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc liên tục đổ người ào ạt
lên các đảo của Việt Nam. Và họ đã nổ súng trước. Vào lúc 8 giờ 30 phút, một loạt
đại liên và cối 82 của Trung Quốc đã bắn vào đội hình người nhái Việt Nam làm
hai binh sỹ tử vong và hai bị thương. Nhưng chỉ huy phía Việt Nam vẫn không thể
ra lệnh cho các tàu nổ súng vì đội hình người nhái Việt Nam đang ở vị trí cực kỳ
nguy hiểm. Cùng lúc đó, xuất hiện hai chiếc tàu Kronstadt của Trung Quốc mang số
hiệu 274 và 271 sơn màu xám đen, trang bị đại bác 100 ly và nhiều đại bác 37 ly
ngay bên cạnh tàu HQ-4. Các họng súng đại bác của tàu Trung Quốc đều đang chĩa
thẳng vào tàu HQ-4. Các tín hiệu bằng đèn cực kỳ khiêu khích của tàu Trung Quốc
liên tục được chuyển tới tàu HQ-4. Khoảng 10 giờ, hai trục lôi hạm Trung Quốc
mang số 389 và 396 bắt đầu tách khỏi hai chiếc 274 và 271, chạy song song gần
nhau và bất chợt cùng quay mũi trực chỉ HQ-10. Vẫn chưa có lệnh khai hỏa từ
phía VNCH. Các tàu chiến của Trung Quốc từ từ tiến gần đội hình của VNCH, còn
cách tàu HQ-10 chỉ khoảng 200 mét, tình hình hết sức căng thẳng. Khoảng 10 giờ
25 phút, bốn chiến hạm của Hải quân VNCH được lệnh nổ súng để tự vệ trước sự
gia tăng gây hấn, khiêu khích và xâm chiếm trái phép ngày càng quyết liệt hơn của
Trung Quốc.
Những phát đạn
đầu tiên của HQ-10 trúng ngay vào chiếc 389 của Trung Quốc làm nó bốc cháy,
cùng lúc tàu HQ-16 cũng bắn thẳng vào chiếc 386 làm cho đài chỉ huy bị trúng đạn,
hỏng hệ thống điều khiển bánh lái khiến nó cứ xoay vòng. Đang chiếm ưu thế, bất
chợt khẩu 76,2 ly trên tàu HQ-10 bị trục trặc, thêm vào đó HQ-10 chỉ còn một
máy chính nên xoay trở rất chậm trở thành mục tiêu dễ dàng của đối phương. Lợi
dụng sự bất lợi đó, chiếc 389 đã tấn công tới tấp và HQ-10 trúng đạn. Không bỏ
lỡ cơ hội, chiếc 389 của Trung Quốc tiến đến gần phía sau lái của HQ-10, nhưng
bị các binh sỹ trên tàu HQ-10 chống trả dữ dội và điều khiển tàu đâm vào phần
sau lái của chiếc 389, khiến chiếc này hư hỏng nặng và bị loại khỏi vòng chiến.
Đây cũng là lý do khiến chiếc 396 phải ngưng chiến đấu với tàu HQ-16 để cấp tốc
ứng cứu chiếc 389 và đưa chiếc này ủi lên bãi san hô để tránh bị chìm xuống biển.
Tình trạng của tàu HQ-10 lúc này rất bi đát, hơn 70% chiến sỹ đã tử trận kể cả
hạm trưởng. Các tàu Trung Quốc phản kích dữ đội. Cùng lúc đó Trung Quốc tung xuống
một lực lượng rất mạnh từ đảo Phú Lâm ở gần đó và từ căn cứ ở đảo Hải Nam. Các
chiến sỹ còn trụ lại trên tàu HQ-10 đang bốc cháy vẫn tiếp tục nổ súng vào các
tàu Trung Quốc, thu hút hỏa lực cho các đồng đội khác rút lui cho đến khi chìm
hẳn xuống lòng Biển Đông của Tổ quốc.
Sau khoảng
hơn 45 phút giao chiến, theo tài liệu của Trung Quốc có các tàu của Trung Quốc
mang số hiệu 274, 271, 389, 391 trúng đạn hư hỏng nặng; 281, 282 và 402, 407 hư
hại trung bình.
Theo tài liệu
của VNCH, hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) trúng đạn bị chìm, HQ-16 bị hư hại nặng,
HQ-4 và HQ-5 bị hư hại nhẹ. VNCH có hơn 50 binh sỹ tử trận. Trung Quốc bắt giữ
48 binh sỹ VNCH và một người Mỹ, sau đó trao trả cho Việt Nam và Hoa Kỳ tại Hồng
Kông.
![]() |
|
Hình ảnh chiếc trục lôi hạm 389 của Trung Quốc bị loại khỏi vòng chiến phải ủi vào bãi san hô để không bị chìm |
Ngay sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa, chính quyền
VNCH liên tục phát ra nhiều Tuyên bố phản đối hành động "xâm lăng trắng trợn
bằng quân sự” này của Trung Quốc và tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên
quần đảo này.
Trong khi đó, ngày 26-1-1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN) cũng ra Tuyên bố phản đối hành động xâm chiếm Hoàng
Sa của Trung Quốc và công bố lập trường "về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
của Việt Nam”.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Chính phủ CMLTCHMNVN cũng đã nhiều
lần tuyên bố khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam. Ngày 5-6-1976, người phát
ngôn Bộ Ngoại giao Chính phủ CMLTCHMNVN đã lên tiếng bác bỏ các thông tin xuyên
tạc về Hoàng Sa và Trường Sa và khẳng định hai quần đảo này là thuộc chủ quyền
Việt Nam, từ trước đến nay luôn do người Việt Nam quản lý.
Nhóm PV Biển Đông
Nhóm PV Biển Đông
“Hết trích”
Thực vậy, đây chỉ là sự lợi dụng vì lý do chính
trị mà thôi, Đảng và nhà cầm quyền CSVN chưa bao giờ tỏ lòng trân trọng và đối
xử có tình người đối với quân nhân miền Nam, còn sống cũng như đã chết, vì nếu
có lòng, họ đã có một chính sách tốt đối
với các thương phế binh VNCH, các quân nhân VNCH mất tích trong chiến tranh,
trùng tu các nghĩa trang quân đội VNCH…
Bằng chứng lả chính phủ Hoa Kỳ - thông qua cơ
quan Viện trợ quốc tế Hoa Kỳ (United State Agency for International
Development viết tắt là USAID) cấp ngân khoản
nhân đạo 1.000.000 (1 triệu) Mỹ kim cho nhà cầm quyền CSVN để tài trợ
công việc tìm kiếm quân nhân mất tích của cả hai miền Nam – Bắc trong cuộc nội
chiến Việt Nam, nhưng nhà cầm quyền CSVN đã từ chối công việc tìm
kiếm quân nhân VNCH bị mất tích.
“Trích”
Ông Jim Webb đòi ngưng chương trình tìm kiếm quân nhân tử trận trong chiến tranh Việt Nam
Thanh Phương
Theo nhật báo The Virginian-Pilot, ngày 22/09/11, thượng nghị sĩ Jim Webb đã yêu cầu Cơ quan Viện trợ Quốc tế của Mỹ ( USAID ) ngưng thực hiện chương trình 1 triệu Mỹ kim cho đến khi nào được bảo đảm là tiền tài trợ được sử dụng để tìm thi hài của binh sĩ của cả hai bên Cộng sản và Quốc gia.
Trong bản tuyên bố, thượng nghị sĩ Jim Webb viết :
« Dự án này phải bảo đảm xử lý công
bằng đối với các quân nhân mất tích thuộc quân đội Bắc Việt, lực lượng Việt Cộng
và quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Thế mà, theo những thông tin mà văn phòng tôi có
được, các cuộc thảo luận giữa cơ quan USAID với chính phủ Việt Nam cho thấy là
các binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa không được tính trong số binh sĩ mất tích và như
vậy là sẽ không nằm trong dự án này ».
Ông Jim Webb, hiện là chủ tịch tiểu ban Đông Á
Thái Bình Dương của Uỷ ban Ngoại giao Thượng viện Mỹ, nhắc lại : luật thông qua chương trình nói trên có ghi
rõ là tiền tài trợ phải sử dụng để nhận dạng thi hài quân nhân tử trận của cả
hai bên.
Các giới chức Việt Nam cho biết họ muốn nhận dạng
khoảng 650.000 binh sĩ Bắc Việt và quân Việt Cộng, hiện được chôn trong các nghĩa
trang hoặc còn được xem là mất tích. Nhưng theo thượng nghị sĩ Jim Webb, chính
phủ Hà Nội cũng cần phải tìm thi hài những binh sĩ miền Nam từng chiến đấu bên
cạnh quân đội Mỹ, mà hiện chưa biết con số là bao nhiêu.
Ông Jim Webb còn nhắc lại là Nghĩa trang An Bình,
tức nghĩa trang quân đội Biên Hòa trước đây, hiện bị bỏ hoang phế và cần phải
được tu bổ lại.
Khi được hỏi về yêu cầu của thượng nghị sĩ Jim
Webb, một phát ngôn viên của cơ quan USAID khẳng định là họ sẽ « tìm kiếm
và nhận dạng thi hài quân nhân của cả hai bên trong cuộc chiến, để giúp đóng lại
vết thương của hàng triệu gia đình Việt Nam cho tới nay vẫn không biết về số phận
của người thân bị mất tích ».
“Hết trích”
III/ Mua bán Hoàng Sa –
Trường Sa giữa Trung Cộng và CSVN ???
Khi một sự kiện xảy ra, mỗi người hiểu
theo một cách, dựa vào kiến thức qua
kinh nghiệm trường đời, qua trình độ học
vấn, qua nhận thức của mỗi người, qua tổng hợp và phân tích
các nguồn tin khác nhau …cho nên các cụ ta mới có câu rằng “Năm người mười ý”
và mỗi người đều có quyền bảo lưu ý kiến của mình cho tới khi tìm ra được câu
giải đáp đúng.
Trước hết,
sau khi đọc toàn văn bức Công hàm “chết
tiệt” của ông cố Thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng,
cũng như sự kiện Thứ trưởng Ngoại giao CSVN Ung Văn Khiêm nói với vị Quyền Đại Sứ
Trung quốc tại Bắc Việt, Li Zhimin rằng “Theo những dữ
kiện của Việt Nam thì quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc”, và trích
đoạn dưới đây:
“Tài liệu của Trung Quốc cho
biết trong chuyến bí mật viếng thăm Bắc Kinh vào tháng 4/1965
cùng với Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn đã nói với Lưu Thiếu Kỳ, đại diện Trung Ương Đảng
CSTQ rằng Việt Nam “luôn luôn tin tưởng rằng Trung Quốc là người bạn đáng tin cậy nhất của
Việt Nam,” và “sự giúp đỡ của Trung Quốc cho Việt Nam luôn đứng đầu về số lượng cũng
như chất lượng.” Lưu Thiếu Kỳ cám ơn Lê Duẩn và nói với Lê Duẩn rằng “chính sách của Đảng
Trung Quốc trước sau như một, và Trung Quốc sẽ thỏa mãn tối đa những gì mà mà
Việt Nam cần.” Tiếp theo, ngày 16.5.1965, Hồ Chí Minh lại qua Trung
Quốc gặp Mao Trạch Đông tại Trường Sa, tỉnh lỵ của tỉnh Hồ Nam, và nói với Mao
về những gì Việt Nam cần để có thể gửi người đi chiến đấu tại miền Nam. Mao hứa sẽ cung
cấp “bất cứ sự trợ giúp nào mà Việt Nam cần.”
Kính thưa quí
vị,
Nếu chỉ có những
dữ kiện trên đây là chứng cớ của việc mua bán hải đảo, lãnh thổ Việt Nam, thú thực, tôi đã cố gắng tìm hiểu, nhưng cũng không tìm thấy một chút xíu nào mối
liên hệ nhân quả, từ những dữ kiện nêu trên lại dẫn đến việc mua và bán biển đảo
Hoàng Sa - Trường Sa của Việt Nam cho Trung Cộng.
Thật sự, dù
có trí tưởng tượng phong phú đến mấy đi nữa,
chúng tôi cũng không thể hiểu được đó là một sự mua bán lănh thổ quốc
gia.
Tại sao vậy?
Bởi v́ qua
nghiên cứu tài liệu về chủ nghĩa Cộng sản,
về nghĩa vụ quốc tế vô sản, th́ những sự giúp đỡ của các quốc gia khối Cộng sản thời xa
xưa Liên Xô – Trung Cộng – Tiệp Khắc – Bắc Hàn – Cu Ba.. cũng chỉ là nghĩa vụ
quốc tế, chủ trương của khối Cộng, CSVN
được hưởng sự trợ giúp, với nhiệm vụ thi hành nghiã vụ của quốc tế Cộng sản
giao phó, đó là nhuộm đỏ Đông Dương, dùng Đông Dương làm bàn đạp phổ biến chủ
nghĩa Cộng sản và xâm lăng các quốc gia khác trong khu vực.
IV/ Quốc hội có thẩm quyền
phê chuẩn hoặc “thông qua” Công hàm ???
Hiến pháp của mọi quốc gia
– Tự do cũng như Cộng sản – đều qui định rằng một trong những thẩm quyền của quốc
hội là phê chuẩn các hiệp ước quốc tế, đại diện toàn dân quyết định về lãnh hải
– lãnh thổ của quốc gia.
Không có một bản Hiến pháp
nào trên thế giới qui định thẩm quyền của quốc hội là phê chuẩn hoặc “thông
qua” bản Công hàm.
Cho nên, nếu như quốc hội
CSVN vào thời điểm năm 1958 mà có lỡ dại phê chuẩn Công hàm thì cũng không có
giá trị pháp lý nào cả, vì Quốc hội không có thẩm quyền này.
V/ Nguyên lý Promissory
estoppel là gì ???
Một số người
cho rằng thuở xa xưa, CSVN đã hứa hẹn việc mua bán, hoặc hiến tặng hoặc trao đổi lãnh thổ, lãnh hải Hoàng Sa - Trường Sa cho
Trung Cộng để nhận lấy viện trợ quân sự và kinh tế xâm lược miền Nam, được chứng
minh bằng những dữ kiện trên, theo kiều
“Có đi có lại mới toại lòng nhau”, còn được gọi là “Bánh ít đi, bánh qui lại”, nhưng sau khi đạt được thành quả như ý muốn
là “giải phóng” miền Nam vào tháng
4/1975, CSVN lại ngược ngạo chối bỏ những
hứa hẹn đó, phủ nhận những gì mình đã cam kết, đã hứa hẹn trong quá khứ, làm
cho Trung quốc bị thiệt thòi tiền của, công sức bao nhiêu năm viện trợ cho CSVN
trong chiến tranh Nam – Bắc Việt Nam
…nên đã viện dẫn học thuyết Promissory estoppel để bảo vệ “lẽ phải và
công bình” cho Trung quốc.
Giả dụ rằng chúng tôi đồng ý lập luận của
học thuyết Promissory estoppel, thì xin
hỏi chúng ta có thể áp dụng luật Promissory Estoppel trong trường hợp bản Công
hàm của ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề ngày 14/09/1958 được không?
Trước hết, chúng ta nên tìm hiểu nguyên
lý “Promissory estoppel” là gì? Điều kiện cần và đủ là như thế nào ? thì mới có thể áp dụng được trong trường hợp
đó.
Trong cuộc sống của người Việt, trong cũng như
ngoài nước, ta vẫn nghe câu nói “Lỡ đặt niềm tin lầm đối tượng” đến nỗi mất cả
chì lẫn chài, đã xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, trong nhiều tình huống, chẳng hạn tình cảm nam nữ,
mua bán, hùn hạp, vay mượn … để rồi bị người ta lừa gạt, người bị thiệt thòi chỉ biết ngậm đắng nuốt cay, âm thầm rơi
lệ, tự trách bản thân mình, rồi cũng tự an ủi điều xui xẻo bằng số mệnh do ông
Trời an bài, người đời biết chuyện cũng chỉ có thể cảm thương cho người nhẹ dạ,
vì quá tin người mà phải chịu thiệt hại cho bản thân, cho tài sản…
Cũng vì tấm lòng chân thật, chỉ vì kẻ xảo trá kia nói hay quá, hứa hẹn tài
quá, những người thật thà, tưởng ai cũng
có lòng tốt như mình, làm sao mà không tin cho được, nhưng nếu bắt người thật
thà, ngay thẳng phải chịu thiệt thòi thì thật là quá bất công, còn đâu là lẽ phải,
nên để bảo vệ nạn nhân trong trường hợp này, luật pháp đặt ra qui luật buộc người
đã hứa, đã cam kết phải giữ vững lời hứa, phải thi hành lời hứa, để bảo vệ có sự
công bình, luật này gọi là Promissory estoppel.
Nguyên bản của luật Promissory estoppel xác định
đây là luật về “Hợp đồng – Khế ước –
Giao kèo” (Contract), nhưng là loại hợp
đồng – khế ước – giao kèo không được viết thành văn bản, mà là hợp đồng – khế ước
– giao kèo bất thành văn, tức là giao kèo miệng, hợp đồng miệng, nôm na gọi là lời hứa, lời nói miệng với nhau, bởi vì nếu đã có hợp đồng hoặc giao kèo - khế ước viết rõ
ràng, các bên ký kết hoặc Tòa án sẻ căn cứ vào sự thỏa thuận với nhau trên văn
bản mà giải quyết, không cần đến luật Promissory estoppels làm gì.
Một ví dụ của loại hợp đồng mua – bán bất thành
văn dễ hiểu nhất là khi quí vị đi chợ, mua hàng và ra quầy tính tiền để trả tiền,
sau khi trả tiền xong, quí vị đã hoàn thành hợp đồng mua – bán hàng hóa vào lúc
đó, bởi vì một bên đã giao hàng và một bên đã trả tiền.
Nhưng hợp đồng mua- bán chưa chấm dứt ở đó, vì
hai bên, bên mua phải bảo đảm là đã trả
bằng tiền thật, không phải là tiền giả, còn bên bán phải bảo đảm hàng đó không
phải đã bị thiu thối, nghĩa là sự mua
bán phải cụ thể, rõ ràng, ai cũng nhìn thấy, ai cũng hiểu được.
Nguyên lý Promissory estoppel do thẩm phán Denning
nghĩ ra trong vụ kiện nổi tiếng vào năm 1947 tại Anh, vụ kiện The high
Tree (is established by Lord Denning in
a well-known case: the high tree case in 1947).
Promissory estoppel gồm có hai từ ngữ ghép lại với
nhau là “Promise” là “Lời hứa” và “Estoppel” là “Ngăn chận sự nuốt lời” hoặc “
Ngăn chận sự chối bỏ lời đã nói, đã hứa”.
Estoppel được giải thích:
(1) prevents a party from making
an allegation
or denial that contradicts what it had previously stated, or what has been
legally established, as the truth,
(2) supports a claim for damages of the
party that had a good-faith reliance
on a misleading representation
of another party
Xin tạm dịch:
Từ ngữ
“Estoppel” là quy luật pháp lý về
chứng
cớ (và không phải
là một nguyên nhân làm ra hành động):
(1) Nhằm
ngăn chặn một bên đưa ra một luận
điệu hoặc lời từ chối trái ngược hẳn với những gì đã được nói trước đó, hoặc
những gì đã được người ta hoàn thành hợp pháp,
vì những lời nói trước đó đã được người
ta đánh giá là sự thật.
(2) Nhằm
hỗ trợ cho việc khiếu nại đòi bồi
thường thiệt hại của bên ngay
tình , vì đã đặt niềm tin vào những điều giả dối của phía bên kia
mà họ phải gánh chịu thua thiệt.
Hiểu một cách đơn giản, “Estoppel” có nhiều ý
nghiã “Sự ràng buộc của lời hứa” hoặc “Ngăn chận sự nuốt lời” hoặc “Không phản bội lời
hứa, không phủ nhận lời mình đã nói, thì mới có sự công bằng”, do
đó, ngay trong từ ngữ “ Promissory estoppel”
đã bày tỏ được ý nghĩa và hai điều kiện mở đầu của nguyên lý này là :
1/ Phải có một lời hứa.
2/ Người đã nói ra lời hứa không được phản bội lời
hứa của mình để bảo vệ lẽ phải
Luật pháp các quốc gia giống nhau ở quan điểm
cho rằng phản bội lại lời hứa, chối bỏ những lời mình đã nói, hoặc không thực
hiện lời đã hứa, không thực hiện lời mình đã nói, dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho người
khác, là không phù hợp với lẽ công bằng
và được đồng hóa với sự gian trá.
Và được dẫn gỉải như sau:
Promissory Estoppel: when a person makes a false statement to
another and the listener relies on what was told to him/her in good faith and
to his/her disadvantage.
Nguyên
lý “Sự ràng buộc của lời hứa” hoặc “Trách nhiệm đối với lời hứa” là khi một người nói những lời giả dối,
nhưng lại làm cho người nghe những
lời giả dối đó, tin tưởng hết lòng, và kết
quả làm người đó bị thiệt thòi vì đã đặt niềm tin lầm đối tượng.
Promissory
Estoppel is an important doctrine in contract law in which a non contractual
promise lacking consideration rendered enforceable to avoid an injustice
Nguyên
lý “Trách nhiệm đối với lời hứa” là một nguyên tắc quan trọng trong luật hợp đồng, trong đó lời hứa hẹn không được làm bằng văn bản hợp đồng
và phải được cưỡng bách thực hiện lời hứa đó mới tránh được sự bất công
Estoppel is closely related to the doctrines of
waiver, variation, and election and is applied in many areas of law, including
insurance, banking, employment, international trade, etc
Nguyên
lý “Bảo vệ lời hứa” có liên quan đến học thuyết về sự khước
từ, sự
thay đổi, và bầu cử và được áp dụng
trong nhiều lĩnh vực pháp luật, bao gồm cả bảo hiểm, ngân hàng, nhân
công, mậu dịch quốc tế…
In order to see that justice is done
a court will treat the statement as a promise, and in a trial the judge will
preclude the maker of the statement from denying it. Thus, the legal inability
of the person who made the false statement to deny it makes it an enforceable
promise called "promissory estoppel," or an "equitable
estoppel."
Để
thực thi công lý, tòa án sẽ đồng hóa lời nói như một lời hứa,
và trong khi xét xử, thẩm phán sẽ ngăn chận
không để cho người phát biểu lời nói đó được chối bỏ lời đã nói. Vì vậy, để
vô hiệu hóa hành vi của người đã nói lời gian dối, chỉ còn
cách cưỡng bách họ thực hiện lời nói của mình, sự kiện này được gọi là "không phản
bội lời hứa để tránh gây thiệt hai cho người khác” hoặc “không phản bội lời hứa
để bảo vệ sự công bằng”
Promissory Estoppel is a “bargained for exchange.” In other words,
consideration is present in a contract when both parties exchange promises. One
party promises to do something in reliance on the other party’s promise to
something.
Học
thuyết “Bảo vệ lời hứa” là một sự "trả giá trong việc trao đổi." Nói cách khác, giá cả được
thỏa thuận trong hợp đồng khi cả hai bên cam
kết với nhau. Một bên hứa hẹn sẽ làm một cái gì đó vì
đặt niềm tin vào lời hứa của phía bên
kia về một điều gì đó.
Here's an example:
Let's say you had a big tree in your front yard
that fell over in a windstorm, and now the tree is blocking part of your
street.
Someone from the city comes out and orders you
to get that portion of the tree that is blocking the street out of the way by
Monday, or you'll be fined $500.00 for every day that tree is blocking the
street.
Your neighbor overhears the conversation and says
"Hey, I'll come over this weekend with my chain saw and cut the tree up so
you can haul the stuff in the street out of the way."
Well, the weekend passes and your neighbor never
comes out to cut up the tree, so now you're facing $500.00 a day in fines, plus
the fee to have a tree removal service come out and cut up the tree.
You decide to take your neighbor to small claims court, and you're suing for the cost of the fines and the fees to have the tree removed.
Your
neighbor, who has consulted a lawyer buddy of his, tells the judge that
the promise could not be legally enforced because you didn't offer or promise
any consideration for services rendered; therefore there was no contract.
Under the doctrine of promissory estoppel, you
could prevail in this case because:
(a) your
neighbor made you a promise,
(b) your
neighbor should have reasonably expected you to rely on that promise,
(c) you
actually DID reasonably rely on that promise, and
(d) you
suffered a personal detriment -- financial damages -- as a result of relying on
that promise that your neighbor did not fulfill.
Dưới đây là một ví dụ:
Hãy nói rằng vì gió bão cái cây lớn trồng ở sân trước của nhà bạn bị
gãy đổ nằm chặn ngang một phần của đường lộ.
Một
nhân viên hữu trách của thành phố đến và báo cho biết rằng bạn phải dọn dẹp phần cây đổ
ra khỏi con đường lộ, mọi việc phải hoàn tất trước ngày thứ Hai, nếu không, bạn sẽ bị phạt 500 Mỹ
kim/ngày cho mỗi ngày chậm trễ.
Người
hàng xóm của bạn nghe được câu
chuyện và nói: "Này, cuối tuần này tôi
sẽ lấy cái cưa máy để cắt cây và
dọn dẹp đường xá dùm cho bạn".
Giời
ạ! Những ngày cuối tuần qua đi, nhưng
người láng giềng của bạn đã không ra
cưa cây dùm cho bạn, vì vậy, bây giờ bạn phải trả tiền
mướn cơ quan dịch vụ cưa cây và dọn dẹp đường phố, cộng thêm phải trả tiền phạt
500
Mỹ kim mỗi ngày trễ hạn không dọn dẹp mặt đường lộ.
Bạn quyết định kiện người hàng xóm ra tòa xử
vụ kiện nhỏ, và bạn kiện đòi
người hàng xóm phải bồi hoàn thiệt hại mà bạn đã phải trả tiền phạt cùng với lệ phí trả cho cơ quan dịch vụ dọn dẹp đường lộ
Người
láng giểng của bạn tham khảo ý kiến với
một người bạn luật sư của ông, đã
trình bày với vị thẩm phán rằng ông ấy là người đã đưa ra đề nghị đó, nhưng bạn lại
không có hành động tương xứng đáp trả là một cái giá cả xứng đáng với công sức
của ông ta sẽ phải bỏ ra để làm công việc đó. Do đó, giữa hai bên không
có sự kết ước nào cả, nên lời hứa đó
không thể bị cưỡng
bách thi
hành.
Theo học thuyết của Promissory
Estoppel, bạn
có thể thắng vụ kiện này bởi vì:
(a) Người hàng xóm của bạn đã phát biểu một lời hứa,
(b) Người
hàng xóm của bạn đã làm cho
bạn tin tưởng vào lời hứa đó,
(c) Bạn thực sự có hành động hợp lý đã không làm gì cả dựa vào lời hứa đó, và
(d) Vì
người hàng xóm có lỗi không chịu thực hiện lời hứa, bạn đã phải gánh chịu thiệt hại cho
bản thân - thiệt hại về
tiền bạc – là hậu quả của sự tin tưởng vào lời hứa của
người hàng xóm.
Qua ví dụ
trên, nguyên tắc căn bản của luật Promissory estoppel như sau:
Promissory
Estoppel has four necessary elements which the plaintiff must prove:
·
there
was a promise that was clear and definite
·
the
promisee justifiably relied on the promise
·
the
promisee suffered a significant loss on the basis of the promise.
·
enforcing
the promise will serve the best interests of justice.
Xin
tạm dịch: Có bốn
(04) yếu tố cần thiết mà phía
nguyên đơn cần phải chứng minh khi áp dụng điều khoản về Promissory estoppel:
·
Phải
có một lời hứa, lời hứa đó phải rõ ràng
và xác định được
·
Lời
hứa đó phải đáng tin cậy để người được hứa hẹn tin tưởng
·
Việc
không thực hiện lời hứa gây hậu qủa làm thiệt hại cho người được hứa hẹn
·
Công
lý đòi hỏi phải cưỡng bách thực hiện lời
hứa mới có được sự công bằng
Khi một lời hứa hoặc một lời nói được đánh giá
là ” clear
and definite “, có nghĩa là lời
nói hoặc lời hứa phải thật sự rõ ràng, minh bạch, người khác nghe câu chuyện không cần phải suy
diễn, không cần phải tưởng tượng, không cần phải được người ta giải thích lòng
vòng, quanh co, mới có thể hiểu được đó
là một lời hứa, một hợp đồng, một giao kèo miệng.
Để diễn
giải cho dễ hiểu, mấu chốt của học thuyết Promissory estoppel là ba điều kiện chính:
A/ Phải có một lời hứa của một cá nhân hoặc một cơ
quan có đủ tư cách và thẩm quyền để phát biểu bằng lời nói hoặc một sự hứa hẹn, một sự cam kết…và lời hứa, lời nói phải rõ ràng
B/ Lời hứa đó phải có đủ tín lực để phía bên kia tin tưỏng mà kết ước.
C/ Nếu bên đã cam kết hoặc hứa hẹn không thực hiện lời
hứa hoặc lời cam kết khi có đủ điều kiện thực hiện, bên kia phải gánh chịu thiệt hại vì sự thất hứa
đó.
Tại Hoa Kỳ,
nguyên lý Promissory
Estoppel được áp dụng cụ thể:
Promissory estoppel allows a party to recover on a promise even
though that promise was made without consideration
Promissory estoppel cho phép
một bên được bồi hoàn lại những thiệt hại vì lòng tin vào lời hứa của phiá bên
kia, mặc dù lời hứa đã nói ra nhưng không được phía bên kia trả lại tương xứng
(Consideration : có đi có lại)
Chapter 130: Promissory Estoppel
M Civ JI 130.01 Promissory Estoppel
The plaintiff claims that the defendant is liable to (him/her) based
on promissory estoppel. To establish this claim, the plaintiff has the burden
of proving each of the following elements:
- The defendant made a promise to the plaintiff that was clear and definite.
- When the promise was made, the defendant knew or should reasonably have expected that this promise would induce the plaintiff to take/refrain from some action.
- The plaintiff did take / refrain from some action in reliance on the promise.
- The plaintiff was damaged as a result of (his/her) reliance.
Nguyên đơn nại rằng bị cáo phải chịu trách
nhiệm về lời hứa đối với họ dựa trên luật promissory estoppel. Để khiếu nại được hữu hiệu, nguyên đơn có trách
nhiệm chứng minh các yếu tố sau:
a. Bị cáo đã có một lời hứa rõ ràng và xác định với nguyên đơn.
b. Khi lời hứa đã được nói ra rồi, bị cáo đã biết hoặc đáng lẽ phải có dự kiến rằng điều
hứa hẹn của họ sẽ làm cho nguyên đơn làm một điều gì, hoặc không làm điều gì cả.
c. Vì tin vào lời hứa, nguyên đơn đã làm hoặc không làm điều gì đó.
d.
Nguyên đơn đã bị thiệt hại vì đã đặt niềm tin vào lời hứa đó
VI/ Vận dụng luật Promissory estoppel vào vấn đề
Hoàng Sa – Trường Sa
Đối với giao dịch của các quốc gia trong cộng đồng
quốc tế, mục đích chính của học thuyết Promissory estoppel nhằm mục đích ngăn chặn trường hợp một quốc
gia có thể gây thiệt hại cho quốc gia
khác vì hành vi hoặc thái độ “nuốt lời” của mình.
Vận dụng
nguyên lý Promissory estoppel trong bang giao quốc tế, cũng phải hội đủ ba (03)
điều kiện chính:
1.
Lời tuyên bố hoặc lời hứa phải do một người có
thẩm quyền phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch
2.
Quốc gia nại “Promissory estoppel” phải chứng
minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia,
mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động.
3.
Quốc gia nại “Promissory estoppel” cũng phải
chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại,
hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.
Dưới đây, chúng ta cần xác định những yếu tố cần thiết khi áp dụng điều khoản về
Promissory Estoppel vào trường hợp bản Công hàm ngày 14/09/1958, từ cơ sở này,
mới có kết luận hợp lý:
1/ Lời tuyên bố hoặc lời hứa phải do một người
có thẩm quyền và tư cách đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu
một cách minh bạch
Câu hỏi : Ông cố Thủ
tướng Phạm Văn Đồng có phải là người có tư cách và thẩm quyền ĐƠN PHƯƠNG nói ra
những lời hứa, lời cam kết, hoặc viết Công hàm quyết định việc mua - bán, hoặc
hiến tặng, hoặc trao đổi hoặc tương nhượng…lãnh thổ và lãnh hải của đất nước
hay không?
Trả lời : Mặc dù là một vị Thủ tướng chính phủ, nhưng ông cố Thủ tướng Phạm
Văn Đồng lại không có tư cách và thẩm
quyền ĐƠN PHƯƠNG quyết định việc mua
- bán, hoặc hiến tặng, hoặc trao đổi hoặc tương nhượng…lãnh thổ và lãnh hải của
đất nước bằng bất cứ hình thức nào.
Câu hỏi: Ông cố Thủ
tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu lời lẽ nào một cách rõ ràng, minh bạch hoặc bản
Công hàm có lời lẽ nào xác định minh bạch, cụ thể rằng bản Công hàm là văn tự
mua – bán Hoàng Sa – Trường Sa giữa Việt Nam – Trung quốc và sẽ có hiệu lực
trong tương lai, sau ngày “giải phóng” miền Nam hay không?
Trả lời: Không có.
2. Quốc gia nại “Promissory
Estoppel” phải chứng minh rằng lời hứa hẹn, lời tuyên bố của quốc gia kia có đủ
tín lực hay không.
Câu hỏi : Trung Cộng
có thực sự tin vào bản Công hàm và những sự kiện khác mà tin cậy (Reliance) Việt
Nam sẽ giao Hoàng Sa – Trường Sa cho Trung Cộng, để từ cơ sở này, Trung Cộng đã
thực hiện sự chi viện cho CSVN xâm lược miền Nam hay không?
Trả lời : Mặc dù là một vị Thủ tướng chính phủ, là người có thẩm quyền viết
Công hàm, nhưng ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại không có tư cách và thẩm quyền đơn phương tự
quyết định việc mua - bán, hoặc hiến tặng, hoặc trao đổi hoặc tương nhượng…lãnh
thổ và lãnh hải của đất nước mình cho một quốc gia khác, bằng hình thức của
Công hàm – Quyết định ..,
Thẩm quyền
này thuộc về toàn dân, mà Quốc hội là cơ quan đại diện, theo qui định của Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm
1946 được áp dụng vào thời điểm năm
1958:
Điều thứ 32 :
Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân
dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý. Cách thức phúc quyết
sẽ do luật định.
Vì lý do này, giả dụ rằng Hổ Chí Minh - Phạm Văn Đồng toa rập với nhau
để bán – trao đổi – dâng hiến lãnh thổ của đất nước cho Trung Cộng, cũng là hành vi vô thẩm quyền,
là lạm quyền, nên hành vi đó trở thành
vô giá trị.
4. Quốc gia nại “Promissory estoppel”
phải chứng minh đã bị thiệt hại vì dựa vào lời tuyên bố hoặc lời hứa của quốc
gia kia, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi
khi phát biểu lời tuyên bố đó.
Giả dụ rằng hai nước Việt Nam – Trung quốc thỏa
thuận cho trọng tài quốc tế hoặc Tòa án quốc tế viện dẫn học thuyết Promissory
Estoppel để giải quyết tranh chấp, thì câu hỏi sẽ là:
Câu hỏi : Khi Việt Nam
không thực hiện lời “cam kết” giao nộp
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng, xin hỏi Trung Cộng sẽ
bị thiệt thòi quyền lợi như nào?
Trả lời : Trung
quốc không bị thiệt thòi gì cả. Tại sao?
Lý do rất đơn giản, cả về tỉnh cũng như về lý:
1/ Về tình : Trung Cộng – từ trước chiến tranh xâm lược miền
Nam cho đến khi chiến tranh kết thúc ngày 30/04/1975 - chưa bao giờ là chủ nhân
thực sự của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đó.
Chưa quốc gia nào được quốc tế công nhận có chủ
quyền trên hai quần đảo này. Cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn đang
trong vòng tranh chấp chủ quyền lãnh thổ của 06 quốc gia.
2/ Về lý : Hội nghị hoà bình quốc tế gồm 51 quốc gia tham dự họp tại San
Francisco, vào ngày 8/9/1951 bác bỏ chủ quyền của Trung Cộng về Trường Sa –
Hoàng Sa với 46 phiếu chống và 3 phiếu thuận.
Ngược lại, với tư cách là Trưởng phái đoàn Việt Nam thời Quốc trưởng Bảo
Đại tham gia hội nghị San Francisco, ông
cố Thủ Tướng Trần Văn Hữu đã phát biểu
vào ngày 07/09/1951 lời công bố chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa. Công bố này đã không bị sự phản kháng nào của các quốc gia
tham dự Hội nghị. Đây là chứng cớ quốc tế về pháp lý mà Trung Cộng không thể phủ
nhận.
Và Trung Cộng cũng đã từ chối mọi đề
nghị của các bên tương tranh, cũng như ý
kiến của những quốc gia đúng ngoài tranh chấp,
đề nghị đưa vấn đề tranh chấp ra thảo luận trong một cuộc hội thảo quốc
tế, hoặc được phân xử bởi trọng tài quốc
tế, hoặc tòa án quốc tế, bởi vì:
1/
Trong những tranh cãi về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa, Trung quốc có viện dẫn chứng cớ,
nhưng chứng cớ không đủ mạnh về phương diện lịch sử và pháp lý.
2/
Suốt thời gian qua, chúng tôi đã cố gắng truy lục tài liệu trên các diễn
đàn, trong các văn kiện ngoại giao của Bộ Ngoại giao Việt Nam, nhưng thấy rằng
Trung quốc chưa viện dẫn nguyên tắc luật Promissory
Estoppel để xác nhận chủ quyền của Trung quốc trên hải đảo Hoàng Sa – Trường
Sa nhằm:
a/ bảo vệ quyển lợi của mình, gạt bỏ mọi lý luận
của phía Việt Nam,
b/ nhằm kết thúc tranh cãi chủ quyền các quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa với Việt Nam, là chứng cớ “cột chặt cái trách nhiệm” ông Phạm Văn Đồng đã nhân danh và đại diện
chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác nhận Hoàng Sa – Trường
Sa là của Trung quốc hoặc bán Hoàng Sa –
Trường Sa cho Trung quốc.
Trung quốc chưa nêu nguyên lý Promissory
estoppel ra, tại sao người Việt hải ngoại phải ra công, ra sức,
lý luận này, lập luận kia, để
đánh gục những lý lẽ bảo vệ lãnh thổ của
tổ quốc Việt Nam, bảo vệ dùm cho Trung Cộng được phần thắng lấy
mất lãnh thổ Hoàng Sa – Trường Sa của chúng ta ???
Cũng vì ông cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng không có thẩm quyền quyết định việc mua bán hoặc hiến tặng, hoặc trao đổi…lãnh
thổ và lãnh hải của đất nước với quốc gia khác, nên bản Công Hàm ngày 14/09/1958
hoàn toàn vô giá trị về pháp lý, riêng về
phương diện lãnh thổ hai khu vực quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.
Bản Công hàm này chỉ có giá trị về
mặt hành chánh là chỉ thị cho các cơ quan dưới quyền tôn trọng quyết định của
Trung quốc nới rộng vùng lãnh hải từ 03 hải lý thành 12 hải lý trên mặt bể, mà
thôi.
Với lý lẽ này, ông cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng không phải là người có tư cách và thẩm quyền để hứa hẹn, như đòi hỏi của luật Promissory Estoppel, nên
dù cho quí vị cố bảo vệ lý lẽ của luật Promissory estoppel cũng không thể áp dụng
được.
Muốn phân chia, đổi chác, mua bán lãnh thổ,
vùng biển của đất nước, chính phủ hai quốc gia phải tiến hành đàm phán nhiều
năm, sau khi hiệp ước được ký kết, còn phải thông qua Quốc hội phê chuẩn, một
thủ tục xác nhận toàm dân chấp nhận bản hiệp ước đó, sau đó, hiệp ước mới phát
sinh hiệu lực vào ngày được ấn định.
Một bản Công hàm viết đơn giản như vậy
làm sao có giá trị mua bán hoặc dâng hiến…. lãnh thổ của tổ quốc được?
Chúng minh cụ thể : Mọi người đều rõ Trung Cộng “xâm chiếm” lãnh
thổ và lãnh hải của Việt Nam thông qua hình thức của hai bản hiệp ước, đó là:
A/ “Hiệp
ước về biên giới trên đất liền” ký
ngày 30/12/1999 được Viêt Nam – Trung Cộng bắt đầu đàm phán từ năm 1993, sau 09
năm thương thảo, kết quả đã làm cho Việt
Nam bị mất Ải Nam quan và 2/3 thác Bản Giốc, được Quốc hội Trung Cộng phê chuẩn
29/04/2000 và Quốc hội Việt Nam phê chuẩn ngày 9/06/2000 và
B/ “Hiệp
ước phân định lãnh hải” được hai bên
Việt Nam – Trung Cộng đàm phán từ năm 1973 và sau 17 năm thương thảo, được ký kết
ngày 25/12/2000, làm Việt Nam bị mất khoảng
10 Km2 vùng biển trong Vịnh Bắc Việt.
Vì vậy, những cuộc biểu tình với lý do chống bản Công hàm bán nước ngày
14/09/1958 thì về khía cạnh pháp lý cho thấy
cái văn tự Công hàm này, chẳng
bán được cái gì cho ai cả.
VII/ Viện trợ của quốc tế
Cộng sản để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản
Nếu trong bang giao quốc tế của các quốc gia khối tự do, chúng ta thường nghe nói đến các loại viện trợ
quân sự, nhân đạo, kinh tế thuộc loại “Viện trợ có hoàn lại” và “ Viện trợ
không hoàn lại” thì các quốc gia khối Cộng cũng giúp đỡ lẫn nhau giống như vậy.
Khi
tìm hiểu vấn đề bản Công hàm ngày 14/09/1954 liên quan đến liên hệ Việt Nam –
Trung Cộng và Việt Nam với các quốc gia trong khối Cộng sản trước thời gian
Liên Sô sụp đổ vào năm 1991, nói khác đi, phải tìm hiểu quan hệ bang giao quốc
tế trong phạm vi khối Cộng đặt trên nền tảng nào. Đó là tinh thần quốc tế vô sản, là sự đoàn kết của giai cấp vô sản chống lại
giai cấp tư sản trên toàn thế giới.
“Trích”
Viện trợ của quốc tế
vô sản (Liên Sô – Trung Cộng – Tiệp khắc – Ba Lan) cho miền Bắc Việt Nam.
“Theo bản tin của BBC.com ngày 10-5-2006
Một buổi hội thảo qui mô tổng kết cuộc chiến tranh Việt Nam đã được
tổ chức tại Sài Gòn trong hai ngày 14 và 15 tháng 4 năm 2006, cuộc hội thảo tập
hợp nhiều tham luận của các sử gia và tướng lãnh trong quân đội Bắc Việt. Trong
số các bài đọc ở hội thảo, tác giả Trần Tiến Hoạt và Lê Quang Lạng thuộc Viện Lịch
Sử Quân Sự Cộng Sản Việt Nam có bài tham luận về nguồn chi viện của Liên Xô,
Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa dành cho miền Bắc trong cuộc chiến.
Tham luận ghi nhận trong 21 năm chiến đấu, Việt Nam “đã nhận được
sự ủng hộ chí nghĩa, chí tình của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới ,
đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em.”
Bài viết thống kê những con số về vũ khí, đạn dược và trang bị kỹ
thuật mà khối xã hội chủ nghĩa đã viện trợ. Khối lượng hàng quân sự Liên Xô,
Trung Quốc và các nước XHCN viện trợ từ năm 1955 đến 1975 qua từng giai đoạn,
như sau:
Giai đoạn 1955-1960:
Tổng số 49,585 tấn gồm : 4,105 tấn hàng hậu cần, 45,480 tấn vũ khí, trang bị kỹ
thuật trong đó Liên Xô viện trợ 29,996 tấn, Trung Quốc viện trợ 19,589 tấn.
Giai đoạn 1961-1964:
Tổng số 70,295 tấn gồm 230 tấn hàng hậu cần, 70,065 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật,
trong đó Liên Xô: 47,223 tấn: Trung Quốc 22,982 tấn, các nước XHCN khác 442 tấn.
Giai đoạn 1965-1968:
Tổng số 517,393 tấn, gồm 105,614 tấn hàng hậu cần và 411,779 tấn vũ khí, trang
bị kỹ thuật, trong đó Liên Xô 226,969 tấn, Trung Quốc 170,798 tấn , các nước xã
hội chủ nghĩa khác 119,626 tấn.
Giai đoạn 1969-1972:
Tổng số 1,000,796 tấn gồm 316,130 tấn hàng hậu cần, 684,666 tấn hàng vũ khí,
trang bị kỹ thuật trong đó Liên Xô :143,793 tấn, Trung Quốc 761,001 tấn , các
nước xã hội chủ nghĩa khác 96,002 tấn.
Giai đoạn 1973-1975:
Tổng số 724,512 tấn gồm 75,267 tấn hàng hậu cần , 649,246 tấn vũ khí trang bị kỹ
thuật, trong đó Liên Xô: 65,601 tấn, Trung Quốc 620,354 tấn, các nước xã hội chủ
nghĩa khác : 38,557 tấn.
Tính tổng cộng qua 20 năm, theo thống kê chính thức của Việt Nam,
số viện trợ mà Việt Nam nhận được là 2,362,581 tấn hàng hoá, khối lượng hàng
hóa qui đổi thành tiền tương đương 7 tỷ Rúp ( tiền Nga)”
“Hết trích”
Một bài viết của tác giả Lê Công Truyền có tựa đề “ Thực chất cuộc
chiến Việt Nam 1955 – 1975”, như sau:
“Trích”
“Vai trò “thừa ủy nhiệm” của Miền Bắc đã
được chính ông HCM công khai xác nhận:
“Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một thành viên trong đại gia đình Xã Hội Chủ
Nghĩa, đứng đầu là Liên xô vỉ đại. Chúng ta có nhiệm vụ giữ vững vị trí tiền đồn
của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á và trên thế giới” (18). Trong “Hồ Chí Minh
Toàn Tập”, HCM viết rõ hơn: “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh
nhất là chủ nghĩa Lénine và Quốc Tế 3 là một đảng cộng sản thế giới. Các đảng cộng
sản ở các nước, như là chi bộ, đều phải tuân theo kế hoạch và qui tắc chung. Việc
gì chưa có lệnh và kế hoạch của Quốc Tế 3 thì các Đảng không được làm.” Ông HCM
cũng đã từng xác nhận trong “Lịch Sử Đảng Cộng sản Việt Nam” (Tập I):
“Chúng ta theo chủ nghĩa Quốc tế, không
theo chủ nghĩa quốc gia. Chúng ta phải nâng cao tinh thần đấu tranh giải phóng,
nghĩa là hình thức thì dân tộc mà nội dung là Quốc tế”. Nơi trang 32, HCM viết
tiếp: “Nhận chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản để giải quyết vấn đề cách mạng ở nước
ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ”.
Trong một bài nói chuyện nội bộ, Tổng bí
thư đảng CSVN Lê Duẩn, đã xác quyết: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho
Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa” . Như thế không gọi là đánh thuê thì
phải gọi là gì? Đánh mướn chăng?
Sau khi cưởng chiếm Miền Nam xong, Lê Duẫn
tuyên bố: “Chúng ta đã cắm ngọn cờ Mác Lê bách chiến bách thắng trên toàn lãnh
thổ Việt Nam. Điều đó có nghĩa là “chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ do Quốc Tế 3
ủy nhiệm”!
Nói tóm lại, cuộc chiến 1955-1975 tại Việt
Nam là một thứ chiến tranh ủy nhiệm đối với Miền Bắc: Miền Bắc nhận lịnh hay thừa
ủy nhiệm ĐTQT tấn chiếm Miền Nam để làm bàn đạp thôn tính cả vùng Đông Nam Á hầu
bành trướng ĐQCS”
……….
Sau khi cướp chính quyền ở
lục địa Trung Hoa, Mao sớm hiểu rõ khái niệm “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của
Liên Xô chỉ là cái bánh vẽ. Mao thấy được âm mưu của Liên Xô dựa vào khối XHCN
để trở thành một đế quốc mới. Do đó, Mao không ngần ngại vứt khái niệm “Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa” của Lenin vào sọt rác, quay ra chống lại Liên Xô và tố cáo
Liên Xô theo chủ nghĩa Sô-vanh nước lớn để áp chế các nước nhỏ. Mâu thuẫn giữa
hai nước đàn anh XHCN đã đưa đến những đụng độ biên giới đẫm máu từ 1959 và kéo
dài cho đến ngày tàn của Liên Xô năm 1991.
Trường hợp của Đảng CSVN và Trung Quốc cũng là một bài học đáng để
ý.Trong thời gian tranh chấp giữa Trung Quốc và Liên Xô, do nhu cầu tiếp nhận viện trợ của cả Liên Xô và Trung Quốc để phục vụ chiến tranh nên Đảng CSVN phải cố gắng đi dây giữa hai lằn đạn, thân thiện với cả hai bên cho đến khi chiến tranh chấm dứt.
Sau năm 1975, Đảng CSVN quyết
định đi hẳn vào quĩ đạo Liên Xô và quay mặt chống Trung Quốc. Hậu quả là Việt
Nam bị sa lầy vào chiến trường Campuchia khi Trung Quốc gia tăng viện trợ cho
Pol Pot để chống lại tập đoàn Hunsen do Việt Nam bảo hộ. Đồng thời Trung Quốc mở
cuộc chiến biên giới Việt-Trung năm 1979, để dạy cho Đảng CSVN một bài học về
thái độ phản trắc của Việt Nam”.
“Hết trích”
Phúc Linh
Phần VII
Kết luận
Mấu chốt của sự vô giá trị
của bản Công hàm ngày 14/09/1958 do ông cố Thủ tướng Việt Cộng Phạm Văn Đồng gửi
cho ông cố Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai là ở chỗ nào?
1/
Nguyên lý Promissory estoppel không áp dụng được vào trường hợp
của bức Công hàm ngày 14/09/1958 vì thiếu
yếu tố “Lời tuyên
bố hoặc lời hứa phải do một người có thẩm quyền và tư cách đại diện cho quốc
gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách rõ ràng và minh bạch”
việc mua – bán hoặc hiến
– tặng hoặc trao đổi.. lãnh thổ Hoàng Sa – Trường Sa để nhận viện trợ kinh tế
và quân sự của Trung Cộng trong chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam,
2/ Hiến pháp và luật
pháp mọi quốc gia, Tự do cũng như Cộng sản, KHÔNG ban thẩm quyền cho Quốc trưởng - Tổng thống -
Thủ tướng chính phủ, được quyền tự mình quyết định việc
mua bán – tương nhượng…. lãnh thổ, biển đảo của đất nước.
Ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có thẩm
quyền tự mình quyết định việc mua bán hoặc
hiến tặng hoặc trao đổi…lãnh thổ và lãnh hải của đất nước, nghĩa là trên bình diện quốc tế, lời nói hoặc bản Công hàm của một
ông Thủ tướng chính phủ, không có chút
xíu “tín lực” nào để quốc gia khác đặt niềm tin rằng ông Thủ tướng một quốc gia
có quyền tự mình bán hoặc hiến tặng lãnh thổ - biển đảo của đất nước.
Nên giả dụ rằng bản Công hàm ngày 14/09/1958 là
một “văn tự bán nước” như một số lý luận
của vài cá nhân thì cũng vô giá trị, chỉ là “Gửi gió cho mây ngàn bay” mà thôi,
từ cơ sở này, những lời xác nhận của
nhân viên chính phủ, viên chức ngoại giao, chẳng hạn lời nói của Ung Văn Khiêm
về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung quốc, cũng không sinh hiệu lực pháp lý nào, chẳng
có nghĩa lý gì cả.
Nguyên lý Promissory estoppel
không áp dụng được vào trường hợp của bức Công hàm ngày 14/09/1958 vì thiếu yếu tố quốc gia nại
“Promissory estoppel” phải chứng minh rằng lời hứa hẹn, lời tuyên bố của quốc
gia kia có đủ tín lực.
3/ Nguyên lý
Promissory estoppel không áp dụng được vào trường hợp của bức Công hàm ngày
14/09/1958 vì thiếu yếu tố ‘Quốc gia nại “Promissory estoppel”
phải chứng minh đã bị thiệt hại vì dựa vào lời tuyên bố hoặc lời hứa của quốc
gia kia, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi
khi phát biểu lời tuyên bố đó”.
4/
Trong chiến tranh xâm lược miền Nam, chúng ta biết rõ CSVN có cả vũ khí
của Nga Xô và Tiệp khắc, cho nên, viện trợ của Nga Sô – Trung Cộng – Tiệp khắc
chỉ là sự trợ giúp cù các quốc gia khối Cộng, gọi là nghiã vụ Quốc tế Cộng sản
CSVN
đã thừa hiểu điều này, nhưng không có ai dám cả gan phê bình rằng vị
cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có tư cách và thẩm quyền viết cái Công hàm để
đơn phương quyết định dâng đất đai của tổ quốc cho ngoại bang, vì sợ “phạm
húy”, sợ bị đưa đi tẩy não, mất tất cả
tương lai, sự nghiệp, danh vọng.
Trung quốc đã
thừa hiểu điều này, vì quí vị đã thấy văn kiện xác định chủ quyền
lãnh hải của Trung quốc ngày 4/09/1958 là do Quốc hội Trung quốc họp bàn, làm ra văn bản đó, và văn bản đó đã được làm
ra đúng thẩm quyền.
Nhưng phía Việt Nam đáp lại một văn kiện của Quốc hội Trung quốc bằng cái Công hàm đơn giản của ông cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng quyết định về lãnh hải.
Đúng thẩm quyền, nhưng bản Quyết nghị của Quốc vụ viện Trung quốc đề
ngày 04/09/1958 cũng không có giá trị vì đã xác nhận “bậy bạ” chủ quyền của
Trung quốc trên những lãnh thổ không phải của Trung quốc, và quốc tế cũng không
chấp nhận đó là những phần lãnh thổ của Trung quốc vào thời điểm quốc hội Trung
quốc ban hành Quyết nghị.
Nếu nghĩ xa hơn về tương lai, GIẢ
DỤ RẰNG vấn đề biển Đông được giải quyết bằng các giải pháp hòa bình như thỏa
thuận trong nguyên tắc ứng xử giải quyết tranh chấp trong khu vực biển Đông,
căn cứ vào chứng minh lịch sử của mỗi nước, nước nào cũng có chút lịch sử, nước
nào cũng được chia phần cả, không được
làm chủ hòn đảo này thì sẽ được làm chủ hòn đảo khác, mỗi quốc gia đều có chủ quyền trên một số đảo
lớn, đảo nhỏ, đảo đá ngầm… trong những khu vực quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa –
Trung Sa – Đông Sa .. , thì chủ quyền lãnh hải 12 hải lý không phải là của
riêng Trung Cộng, mà sẽ là của chung của những quốc gia cùng có chủ quyền trên
những hòn đảo khác, nhưng nằm trong cùng khu vực quần đảo đó.
Ông Chu Ân Lai, cố Thủ tướng Trung
Cộng thừa hiểu rằng Công hàm, một công văn ngoại giao, chỉ có một
giá trị và thẩm quyền giới hạn trong sinh hoạt với quốc gia khác, ngay
chính bản thân ông Chu Ân Lai cũng không có thẩm quyền đơn phương quyết định về
lãnh hải và lãnh thổ Trung quốc, đó là thẩm quyền của Quốc vụ viện, nhưng họ vẫn cố “giả vờ” nhì nhằng buộc chặt
cái công hàm ngày 14/09/1958 của Phạm
Văn Đồng là bán lãnh thổ - lãnh hải của tổ
quốc Việt Nam, được một số người Việt hải ngoại “hùa theo”.
Trung quốc đã
thừa hiểu điều này, nhưng họ vẫn cố tình nhập nhằng để kéo dài
tranh chấp, hoặc có thể cả hai Đảng CSVN và Trung quốc đang tung hỏa mù, đang
cùng nhau diễn kịch, để những viên chức
nhà cầm quyền CSVN và người dân Việt quốc nội cũng như hải ngoại lo chống Trung Cộng ngang ngược xâm lăng hai
quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, sẽ không khám phá ra những kế hoạch “bí ẩn” mà
hai đảng Cộng sản đang tiến hành trong âm thầm liên quan đến vận mạng của đất
nước Việt Nam.
Kính thưa qúy vị,
Một tranh chấp quốc tế, những vụ kiện về dân sự hoặc hình sự vượt ra
khỏi phạm vi của thẩm quyền tòa án quốc nội,
sẽ do trọng tài quốc tế hoặc tòa án quốc tế giải quyết.
Theo luật, trọng tài quốc tế hoặc tòa án quốc tế chỉ
giải quyết những vụ việc mà cả
hai bên
nguyên đơn - bị dơn đều phải có tư cách pháp nhân quốc tế, ngoại trừ những trường
hợp những nguyên thủ quốc gia, các tướng lãnh, bị Công tố viện Tòa án quốc tế
truy tố về tội phạm chiến tranh, diệt chủng….
Trong phạm vi quốc nội, mọi người dân đủ
tuổi thành niên theo luật quốc gia qui định,
đều có quyền nộp đơn kiện trước tòa án. Từ ngữ pháp luật nói rằng mỗi người
công dân đều có tư
cách pháp nhân tư pháp.
Trên bình diện quốc tế, luật pháp quốc tế
đã đồng hóa mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế là mỗi con người, là con người
thì có quyền kiện tụng, nghĩa là mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế được gọi là
mỗi pháp nhân công pháp. Từ căn bản này,
mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế,
đều có tư
cách pháp nhân công pháp, nói cho dễ hiểu là tư cách pháp nhân quốc tế để
khiếu nại hoặc kiện tụng trước trọng tài quốc tế hoặc tòa án quốc tế.
Các tổ chức cộng đồng người Việt quốc gia
hải ngoại, các đảng phái, tổ chức đấu
tranh chính trị hải ngoại, hội đoàn người Việt quốc gia hải ngoại (có giấy phép
hoạt động hợp pháp), các hội đoàn người Việt trong nước, các luật sư đoàn quốc
nội chỉ có tư
cách pháp nhân tư pháp kiện tụng trước các tòa án quốc nội, mà không
có tư cách
pháp nhân công pháp hoặc tư cách pháp nhân quốc tế để khiếu nại hoặc
kiện tụng trước trọng tài quốc tế hoặc tòa án quốc tế.
Mọi hành động của người dân Việt trong nườc
và người Việt hải ngoại đang làm để bảo toàn lãnh thổ và lãnh hải của quê hương, sẽ chỉ có hiệu quả,
với điều kiện phải có sự ủng hộ và hợp tác chân thành của Đảng, cùng nhà cầm quyền CSVN, nếu không, chỉ là vô dụng.
Giả dụ rằng có một quốc gia hoặc một tổ
chức quốc tế, có đủ tư cách pháp nhân quốc tế, giúp nhân dân Việt Nam trong cũng
như ngoài nước, nêu vấn đề ra trước cơ
quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và phân xử hành vi xâm lấn của Trung Cộng
đối với đât nước Việt Nam, xin hỏi quí vị ai sẽ là nguyên đơn trong vụ kiện quốc
tế này?
A/
Tổ chức cộng đồng Người Việt hải ngoại?
B/
Người Việt trong nước? hoặc
C/
Đại diện của nhà cầm quyền CSVN?
Câu trả lời đúng: Nguyên
đơn trong vụ kiện quốc tế sẽ là quốc gia Việt Nam, đại diện cho quốc gia Việt
Nam là nhà cầm quyền CSVN, có tư cách
pháp nhân công pháp, không phải là tổ chức
cộng đồng người Việt hải ngoại và cũng không phải là đại diện của đoàn thể người
Việt trong nước.
Nếu ra trước Tòa án quốc tế, đại diện của
nhà cầm quyền CSVN khai rằng giữa hai quốc gia Việt Nam – Trung quốc vẫn có
giao hảo tốt đẹp căn cứ trên 16 chữ vàng, Việt Nam không hề là nạn nhân của
Trung quốc, Việt nam không hề bị Trung quốc gây thiệt hại gì và Việt Nam không
có ý định kiện Trung quốc.
Tòa án quốc tế sẽ xếp hồ sơ. Vụ kiện bị hủy
bỏ. Bao công lao - thiện chí và lòng ái
quốc của người dân Việt trong và ngoài nước trở thành “Công dã tràng”. Nếu quả thật sự việc sẽ xảy ra như vậy thì thật
là đáng buồn cho đất nước.
Nhưng sẽ là niềm vui cho những kẻ đón gió
trở cờ, đoán trước tương lai Việt Nam sẽ chỉ là một chư hầu, một tình của Trung
quốc, nên đã sớm “bợ đỡ”, sớm bày tỏ tấm
lòng ngưỡng mộ và thần phục ông chủ lớn
Trung quốc, để mong có một ngày, họ được Trung quốc vĩ đại ban cho chút ân sủng.
Bọn chúng không còn liêm sỉ, đang ồn ào diển kịch, lũ lâu la thì tổ chức biểu
tình chống Trung Cộng, cơ quan truyền thông của phe nhóm thì đả đảo Trung Cộng,
nhưng “xếp” của bọn chúng đã công khai bày tỏ tấm lòng “yêu mến và thủy chung”
với Trung quốc vĩ đại rồi. Điều này ai cũng rõ!
“Trích”
Hội Nghị Sát Nhập VN Vào China : Tỉnh
Hay Khu Tự Trị ?
Ninh
Cơ Ghi Lại, C/N
2009/12
Lời ghi chú của WebMa : Chúng tôi đã được tài liệu nầy từ hơn nửa
năm rối, nhưng chưa tiếp sức phổ biến, vì có nghi ngờ về tính cách xác thực của
nó.
Nhưng nay chúng tôi quyết định góp phần phổ biến vì tình hình VN đã biến
chuyển hoàn toàn đúng theo những gì đã được ghi trong tài liệu nầy.
Hội Nghị Sát Nhập Việt Nam vào China : Tỉnh hay Khu Tự Trị ? (Ninh Cơ ghi lại.
Trích tài liệu chép lại từ băng ghi âm cuộc họp mật giữa đại diện Tổng Cục Tình
Báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam để lưu trữ, được bảo quản theo chế độ tuyệt
mật).
Thưa các đồng chí.
Trong mấy ngày qua, ta đã cùng nhau thảo luận nhiều vấn đề, đạt được đồng thuận về căn bản, tuy không khỏi có sự tranh biện về tiểu tiết. Khép lại, ta có thể hài lòng khẳng định hội nghị đã thắng lợi và thắng lợi lớn. Xin các đồng chí hoan hỉ cạn chén.
Thưa các đồng chí.
Trong mấy ngày qua, ta đã cùng nhau thảo luận nhiều vấn đề, đạt được đồng thuận về căn bản, tuy không khỏi có sự tranh biện về tiểu tiết. Khép lại, ta có thể hài lòng khẳng định hội nghị đã thắng lợi và thắng lợi lớn. Xin các đồng chí hoan hỉ cạn chén.
Trong lời phát biểu kết thúc hội nghị, Lương
Tư Lệnh nhấn mạnh : « Những gì được đưa ra bàn ở hội nghị chung quy chỉ là những điều đã được đề cập nhiều lần từ nhiều
năm trong những cuộc gặp gỡ các cấp tham mưu và cả cao cấp ». Với tư cách
Chính Uỷ được đề cử ra chủ trì hội nghị tôi xin tóm tắt vài điều cần thiết.
Trước hết, hội nghị nhất trí cao về quan điểm không có và không hề có chuyện China thôn tính Việt Nam.
Trước hết, hội nghị nhất trí cao về quan điểm không có và không hề có chuyện China thôn tính Việt Nam.
China không có nhu cầu thôn tính nước nào.
Các nước lân bang đều nghèo. Họ cần đến China hơn là China cần đến họ. Những
cái họ có đều ở dạng tiềm năng dưới đất hoặc ngoài biển. Không có China giúp đỡ
thì chẳng khai thác được. Trong giai đoạn phải dồn toàn lực cho phát triển kinh
tế, mà Ðặng Tiểu Bình lãnh tụ đã vạch ra, mọi sự đèo bồng đều vô nghĩa. Chúng
kiềm hãm bước tiến vĩ đại của China vĩ đại.
Thế mà ở Việt Nam lại có những luồng dư luận
như thế đấy. Nào là China bá quyền, nào là China bành trướng. Thối lắm, thưa
các đồng chí, không ngửi được.
Bọn dân chủ ở Việt Nam đã hô hoán rầm rĩ rằng cuộc vạch lại biên cương giữa China và Việt Nam là tranh chấp biên giới. Trong khi đàm phán, tất nhiên có những điều hai bên phải nhân nhượng nhau. Có chỗ lồi ra, có chỗ lõm vào, ở bên này hay bên kia. Nhưng, đó là kết quả của những thương thảo sòng phẳng, thuận mua vừa bán. Các đồng chí Việt Nam thấy chúng tôi nói thế, lại chỉ thanh minh mới chán. Như, Lê Thứ Trưởng (tức là ông Lê Công Phụng) trả lời phỏng vấn : « Thác Bản Giốc ta cứ tưởng là của ta, bạn cũng không bảo là của bạn. Ðo ra mới biết là của ta chỉ có một phần ba. Vì tình hữu nghị với ta, bạn cho ta hưởng một nửa ». Nói thế là tốt. Nhưng vẫn cứ là thanh minh. Việc gì mà phải là thanh minh cơ chứ ;
Bọn dân chủ ở Việt Nam đã hô hoán rầm rĩ rằng cuộc vạch lại biên cương giữa China và Việt Nam là tranh chấp biên giới. Trong khi đàm phán, tất nhiên có những điều hai bên phải nhân nhượng nhau. Có chỗ lồi ra, có chỗ lõm vào, ở bên này hay bên kia. Nhưng, đó là kết quả của những thương thảo sòng phẳng, thuận mua vừa bán. Các đồng chí Việt Nam thấy chúng tôi nói thế, lại chỉ thanh minh mới chán. Như, Lê Thứ Trưởng (tức là ông Lê Công Phụng) trả lời phỏng vấn : « Thác Bản Giốc ta cứ tưởng là của ta, bạn cũng không bảo là của bạn. Ðo ra mới biết là của ta chỉ có một phần ba. Vì tình hữu nghị với ta, bạn cho ta hưởng một nửa ». Nói thế là tốt. Nhưng vẫn cứ là thanh minh. Việc gì mà phải là thanh minh cơ chứ ;
Với bọn phản động chuyên gây rối à ; Cứ thẳng
tay trấn áp, bịt cái miệng chó của chúng lại. Cứ lừng chừng, thiếu kiên quyết.
Cứ hữu khuynh nhân nhượng. Nhân nhượng là chết đấy. Phải quét cho bằng sạch,
không thương xót bọn dân chủ. Không cho chúng được đàng chân lên đàng đầu. Vùi
chúng xuống đất đen, không cho chúng ngóc đầu dậy. Nhưng, cái đó sẽ không còn
là vấn đề trong tương lai.
Việc tiêu diệt bọn dân chủ dòi bọ sẽ không
còn là việc của riêng các đồng chí Việt Nam. Nó sẽ là nhiệm vụ chung của tất cả
chúng ta.
Thưa các đồng chí.
Hội nghị đã thành công là nhờ nó gạt được ra
những chuyện lặt vặt vô bổ, đang là đề tài thời sự, để tập trung vào đại sự : bàn về chuyện hợp nhất hai quốc gia trong
tương lai. Tương lai có thể chưa tới ngay, nhưng lại có thể rất gần. Vì thế, ta phải
có viễn kiến và phải có sự chuẩn bị.
Hợp kết China Việt Nam có thể là một mốc lịch
sử vĩ đại trên đường phát triển của tổ quốc. Với tư cách tham mưu cho cấp cao
hai bên, trong hội nghị này chúng ta bàn thẳng vào những phương án phát thảo những
bước tiến hành cụ thể, những công việc cụ thể trong công tác chuẩn bị. Nào, xin
cạn chén một lần nữa, mừng thắng lợi của hội nghị lịch sử này.
Trong tình thế hiện nay, Việt Nam không còn lựa
chọn nào khác, không còn con đường nào khác hơn là trở về với tổ quốc China vĩ
đại. Ði với Mỹ chăng ? Thì các đồng chí chạy đi đâu ? Trở về với tổ
quốc thì các đồng chí mới tiếp tục tồn tại như những ông chủ duy nhất trước hiểm
hoạ của bọn dòi bọ đang tích cực phản công nhằm tống cổ các đồng chí ra khỏi chỗ
ngồi của mình. Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, các đồng chí không được ngồi ở
bàn giấy trong công thự, mà phải đi lang thang ngoài đường kiếm việc làm. Thật
khủng khiếp. Vì thế, chúng ta phải chiến đấu hết mình cho sự tồn tại của chúng
ta, cho con cháu chúng ta, tương lai của chúng ta, của con cháu chúng ta. Quyết
không để lọt vào tay kẻ khác. Lũ dân chủ dòi bọ ấy có cả ở China. Tôi thừa nhận
điều đó. Nhưng chúng tôi thẳng thắn trấn áp chúng thắng lợi. Nhưng ở Việt Nam
tình trạng có khác. Chúng hung hăn hơn, lì lợm hơn, là do các đồng chí thiếu
kiên quyết. Nếu ở China có một Thiên An Môn, thì tại sao Việt Nam không có một
cái tương tự ;
Tôi xin bảo đảm với các đồng chí rằng, China
sẽ tận tình chi viện cho các đồng chí, một khi có sự biến đe doạ quyền lợi của
đồng chí, để bảo vệ các đồng chí. China không thiếu xe tăng dĩ chí trong vài
Thiên An Môn ... Các đồng chí cứ hỏi Nông đồng chí (tức ông Nông Ðức Mạnh) xem
Hồ đồng chí (tức là Hồ Cẩm Ðào) đã hứa hẹn gì trong cuộc gặp gỡ cấp cao vừa rồi.
Nhưng đó là trong tình huống hiện nay. Trong tương lai thì hai nước đã là một,
thì sẽ không phải như vậy.
Việc Việt Nam trở về với tổ quốc China vĩ đại
là việc trước sau sẽ phải đến. Không sớm thì muộn. Mà sớm thì hơn muộn.
Trong lịch sử, Việt Nam từng là quận huyện của
China, là một nhánh của cây đại thụ China. China và Việt Nam là một. Ðó là chân
lý đời đời. Ðó cũng là lời của Hồ đồng chí (tức là ông Hồ Chí Minh) trong lễ
tuyên thệ gia nhập đảng cộng sản China. Hồ đồng chí tôn kính còn dạy :
« China, Việt Nam như môi với răng. Môi hở thì răng lạnh ». Có nghĩa là hai nước là hai bộ phận trong cùng một cơ thể. Nông đồng chí
(tức là đồng chí Nông Ðức Mạnh) từng tự hào nhận mình là người Choang (Zhuang)
trong cuộc gặp gỡ các đại biểu trong Quốc Vụ Viện. Mà dân tộc Choang là gì ; Là
một bộ phận của đại gia đình các dân tộc China. Trong thời đại hiện nay thì thế
giới được tái phân chia sau đệ nhị thế chiến, thì Hoa Kỳ đã mất sự độc tôn
trong sự trỗi dậy bất ngờ của tổ quốc chúng ta, thì sự sát nhập trở lại của Việt Nam và
toàn bán đảo Ðông Dương tiếp theo là điều tất yếu. Thế nhưng chúng ta đều đã thấy, đã biết những
biểu hiện lừng chừng, giao động lúc này lúc khác, trong ban lãnh đạo đảng cộng
sản Việt Nam muốn người dựa lưng vào China, người dựa hơn con hổ giấy Hoa Kỳ.
Bây giờ đã khác. Sự lựa chọn chỉ còn có một. Và ở đây, các đồng chí Việt Nam tỏ
ra có lựa chọn đúng. Ngày nay, China vĩ đại phải dành lại vị trí đã có của
mình. Có Việt Nam nhập vào, China đã vĩ đại lại càng thêm vĩ đại. Thế giới hôm
nay chỉ còn lại hai siêu cường. Ðó là China và Hoa Kỳ. Con hổ giấy Hoa Kỳ.
Những việc mà bây giờ chúng ta phải làm.
Tôi xin nhấn mạnh lại lần nữa. Không phải bây giờ mới làm, nhưng làm chưa đúng,
làm chưa đủ, thì nay cần phải đẩy mạnh hơn nữa. Phải triển khai rộng hơn nữa là
đè bẹp và tiêu diệt luận điệu tinh thần dân tộc vẫn còn tồn tại dai dẳng trong
bọn kiên trì lập trường độc lập dân tộc. Ðặc biệt trong đám trí thức và vài phần
tử công thần chủ nghĩa trong tướng lĩnh. Cần phải tiêu diệt cả về tinh thần, cả
về vật chất.
Trong tướng lĩnh, phần nhiều là người của ta, do ta đào tạo, cất nhắc. Công này là nguyên chủ tịch Lê (tức là Lê Ðức Anh) người rất biết nhìn xa trông rộng. Tuy nhiên, lẫn vào đấy cũng vẫn có vài phần tử lừng chừng, giao động, chủ yếu do kém hiểu biết. Các đồng chí cần đả thông, bồi dưỡng thêm cho họ về lập trường, quan điểm và trường đảng các cấp.
Trong tướng lĩnh, phần nhiều là người của ta, do ta đào tạo, cất nhắc. Công này là nguyên chủ tịch Lê (tức là Lê Ðức Anh) người rất biết nhìn xa trông rộng. Tuy nhiên, lẫn vào đấy cũng vẫn có vài phần tử lừng chừng, giao động, chủ yếu do kém hiểu biết. Các đồng chí cần đả thông, bồi dưỡng thêm cho họ về lập trường, quan điểm và trường đảng các cấp.
Mấy anh già sắp chết hay nói ngang thì phải
đe nẹt cho chúng biết rằng, một khi đã bị coi là chống đảng thì chúng sẽ bị tước
hết mọi tiêu chuẩn cao đang được hưởng, tất chúng sẽ im mồm.
Ðám trí thức lèo tèo mới là đáng ngại. Tuy
chẳng có trong tay cái gì, nhưng chúng có khả năng kích động tinh thần nhân dân
để cản trở sự hợp nhất. Nhưng không lo. Mao chủ tịch đã dạy : « Trí thức
khởi xướng được, nhưng không làm được. Chúng chỉ lép bép lỗ miệng. Thấy súng
lên đạn là chúng rùng rùng bỏ chạy ». Ðáng ngại là ở chỗ ấy, chỗ khởi xướng.
Nhưng không đáng sợ cũng ở chỗ ấy. Ở chỗ bản tính trí thức, hãy lên đạn, hãy hô
bắn thật to, đâu sẽ vào đấy.
Lực lượng chủ yếu của chúng ta trong việc trấn
áp bọn dân tộc chủ nghĩa là hai cánh quân. Về vật chất là công an, về tinh thần
là truyền thông. Công an sẽ được cung cấp mọi trang bị hiện đại nhất để đè bẹp
mọi mưu toan đối kháng. Nhưng phải chú ý đến điểm này : Không được lạm dụng các
phương tiện hiện đại. Chiếu cố những biện pháp truyền thống ít gây ồn ào, tránh
những phản ứng quốc tế bất lợi.
Truyền thông phải xừ dụng mọi phương tiện sẵn
có. Tăng cường viết và nói hằng ngày hằng giờ, biện luận cho dân thấy cái lợi của
việc sát nhập. Họ sẽ được hưởng mọi phúc lợi của người dân China hơn hẳn phúc lợi
đang có. Họ sẽ không còn chuyện lủng củng vướng mắc về biên giới. Ngư dân được
tha hồ đánh cá trên Biển Ðông này cũng là của họ mà không còn phải lo lắng : vì
xâm phạm lãnh hải, bị hải quân China trừng phạt. Người dân khi xuất ngoại sẽ được
cầm hộ chiếu của một nước lớn mà thế giới phải kiêng nể.
Tuy nhiên, tôi đặc biệt lưu ý các đồng chí là phải tiến hành kín đáo, để mọi việc chuẩn bị diễn ra như bình thường, không nhận thấy được.
Tuy nhiên, tôi đặc biệt lưu ý các đồng chí là phải tiến hành kín đáo, để mọi việc chuẩn bị diễn ra như bình thường, không nhận thấy được.
Trong khi chưa được hợp nhất, trung ương chính
phủ, cũng như các tỉnh chính phủ, tuyệt đối không lộ ý đồ. Thỉnh thoảng cũng phải cho phát ngôn nhân
trung ương chính phủ nói dăm ba câu phản đối về chủ quyền Tây Sa và Nam Sa. Và
cho phép các báo đăng vài bài chiếu lệ về biên giới và hải đảo với mọi « sự
cố » xảy ra trên biển như vừa rồi. Cứ tiếp tục ám chỉ một nước ngoài nào
đó, hoặc một tàu lạ nào đó, không rõ quốc tịch là được.
Ðừng quên xem thường các nhà báo. Họ là công
bộc trung thành của ta. Thiếu họ không được. Hiện nay đang nổi lên sự phản đối
China khai thác Bauxite ở miền Trung, ồn ào lắm,
có vẻ hung hăng lắm. Nhưng là bề ngoài thôi. Chứ bề ở trong, bọn phản đối cũng
thừa biết mọi sự đã an bày. Tiền đã trao thì cháo phải được múc. Bộ Chính Trị
quyết không bỏ kế hoạch này. Nhất là đồng chí Nông Ðức Mạnh. Là chuyện sinh tử
của đồng chí Nông Ðức Mạnh nên đồng chí ấy rất cương quyết.
Trong chuyện Bauxite, tôi thấy bên cạnh cái xấu
lại có cái tốt đấy. Các đồng chí ạ ! Phải công bằng mà lập luận, một khi Việt
Nam đã nhập vào China thì vùng Tây Nguyên của Việt Nam là của chung nước ta.
Chưa chừng, trên sẽ thay đổi kế hoạch. Ta không khai thác ở đấy nữa, mà chuyển
sang khai thác, thực hiện ở Châu Phi. Bauxite của
ta, ta để đấy dùng sau. Cũng như ta đâu có vội khai thác cả tỷ tấn Bauxite ở Quảng
Tây.
Nói để các đồng chí phấn khởi. Về thực chất,
qua con đường ngoại thương, đầu tư, ta nắm Châu Phi trong nhiều năm nay rồi. Ta
đã mua hết các chính quyền ở đấy. Cái đó gọi là quyền lực mềm. China đến sau Phương Tây và Hoa Kỳ, vậy mà chỉ trong vòng 1 thập niên, ta đã quét sạch chúng khỏi đấy. Ta còn chuyển dân mình sang
Châu Phi, làm thành những vùng đất China trên lục địa đen kia nữa. Người China
bây giờ có quyền nói : « Mặt trời không bao giờ lặn trên đất đai của tổ quốc ».
Phải trấn an các cán bộ các cấp, từ trung
ương cho đến địa phương để họ thấy rằng sau hợp nhất, mọi vị trí quyền lợi, bổng
lộc của họ không bị suy suyển. Các đơn vị hành chính sẽ được giữ nguyên trong một
thời gian dài trước khi áp dụng mô hình hành chánh chung của toàn quốc.
Việc này rất quan trọng. Xin các đồng chí chớ
coi thường. Lãnh đạo từ trung ương cho đến địa phương có thông thì dân mới
thông. Nhân dân đã được giáo dục chu đáo trong nhiều năm, tinh thần tuyệt đối
phục tùng lãnh đạo. Nhưng nếu họ thấy cấp trên của họ giao động, tư tưởng bất
thông thì chính họ cũng sẽ giao động theo, trở thành mồi ngon cho những tư tưởng
dân tộc chủ nghĩa.
Thưa các đồng chí.
Còn lại việc cuối cùng là mô hình quản trị Việt
Nam trong tổ quốc thống nhất. Tỉnh hay khu tự trị ? Chuyện này xin các đồng chí về nghĩ thêm, bàn thêm. Tỉnh thì cũng như Quảng
Ðông, Quảng Tây. Về diện tích hơn kém không nhiều. Khu tự trị kiểu như khu tự
trị Choang trong tỉnh Quảng Tây thì lại quá nhỏ về vai vế. Nông đồng chí vốn rất
e ngại sự chống đối trong nội bộ. Mà làm khu tự trị với ý nghĩa lớn hơn thì lại
vướng chuyện Tây Tạng. Bọn chó Ðạt Lai Lạt Ma cũng đang xin tự trị đấy, mà
trung ương không thuận.
Còn mấy đồng chí Việt Nam nêu ý kiến, hay là
tổ chức China thành liên bang, Việt Nam sẽ là một nước hay một bang trong liên
bang ấy. Ý kiến này không mới. Nó đã từng được nêu lên. Nhưng các đồng chí thử
nghĩ xem. Nếu như thế thì thống nhất làm sao được với bọn Tây Tạng, bọn Nội
Mông, bọn Mãn Châu, bọn Hồi Bột. Chính chúng nó đang muốn cái đó để xưng độc lập,
hoặc tự trị trong liên bang. Trên nguyên tắc thì đúng, là cái gì cũng được.
Danh chính thì ngôn thuận. Nhưng nội dung bất
biến. Vùng nào cũng chỉ là một bộ phận lãnh thổ của China. Có điều những danh
hiệu độc lập, tự trị là cái rễ bị lồng vào đấy cái tinh thần dân tộc, mầm mống
cho sự phận liệt. Không được. Quyết không được.
Thưa các đồng chí.
Thưa các đồng chí.
Vấn đề hình thức nhưng lại có tầm quan trọng.
Xin các đồng chí phát huy tự do tư tưởng ... (hết phần trích và dịch đoạn băng
ghi âm).
“Hết trích”
Người Việt
Nam cả hai miền Nam – Bắc đã bị CSVN lừa gạt bằng những lời hay ý đẹp, nên đã ủng
hột bọn chúng chiến thắng miền Nam vào ngày 30/04/1975, nay CSVN lại bị Trung quốc lừa gạt cũng bằng
những lời hay ý đẹp của 16 chữ vàng “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài,
hướng tới tương lai” và tinh
thần 4 tốt “láng
giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” để sau cùng Trung
Cộng “tiếp thu” Việt Nam một cách hoà bình, không tốn một phát đạn, theo kiểu
“tầm ăn dâu”.
Vận nước giờ
đây giờ đây giống như tâm trạng của cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu trong bài
“Vịnh bức dư đồ
rách 1”
Nọ bức dư đồ thử đứng coi
Sông sông núi núi khéo bia cười
Biết bao lúc mới công vờn vẽ
Sao đến bây giờ rách tả tơi
Ấy trước ông cha mua để lại
Mà sau con chắu lấy làm chơi
Thôi thôi chớ trách chi đàn trẻ
Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi. (4)
Các nhà văn, nhà thơ đương thời cảm tác cùng tác gỉa, lên
tiếng hưởng ứng, ủng hộ tư tưởng của Tản Đà bằng cách có nhiều bài họa lại… Tản
Đà đồng cảm liền viết bài họa lại thứ 2 - Vịnh Bức Dư Đồ Rách - 2, đăng trên
Đông Phương Thời báo, số 635,- năm 1927:
Vịnh Bức Dư Đồ Rách 2
Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi
Ta bồi cho chúng chị em coi
Giận cho con cháu đà hư thế
Nghĩ đến ông cha dám bỏ
hoài.
Còn núi còn sông: Nhìn vẫn
rõ
Có hồ có giấy dễ mà chơi.
Bởi chưng hồ giấy ta chưa có
Đành chịu ngồi trông rách tả
tơi.
Như được chắp thêm cánh, đồng
hành bay bổng cùng Tản Đà, các nhà nho, nhà văn có tâm huyết, yêu đất nưóc, dân
tộc cùng tham gia họa lại BDĐR… Tản Đà viết tiếp bài thứ 3 - Vịnh Bức Dư Đồ
Rách - 3, đăng trên Đông Phương Thời Báo số 636 - 1927:
Vịnh
Bức Dư Đồ Rách 3
Đành chịu ngồi trông rách tả
tơi
Buồn chăng? Hỡi các chị em ơi!
Nghĩ cho lúc trước thương
người vẽ
Ngó lại xung quanh hiếm kẻ bồi
Hồ giấy bây giờ mua kiếm khó
Non sông ai hỡi đợi chờ ai?
Còn núi còn sông còn ta đó
Có lúc ta bồi chúng bạn
coi.
Cuối cùng Tản Đà tổng kết cuộc họa thơ do ông khởi xướng
bằng bài Vịnh Bức Dư Đồ Rách 4, đăng trên Đông Phương Thời Báo số 643 - năm 1927:
Vịnh Bức Dư Đồ Rách 4
Có lúc ta bồi chúng bạn coi
Chị em nay hãy tạm tin lời
Dẫu cho tài có cao là thánh
Chưa dễ tay không vá nổi trời
Hồ giấy muốn mua, tiền chẳng
sẵn
Non sông đứng ngắm lệ nhường
rơi
Việc nhà chung cả ai ai đó
Ai có cùng ta sẽ liệu bồi?
Phúc Linh
--- HẾT ---



RSS Feed
Facebook
Twitter
0 comments:
Đăng nhận xét