Nguyễn Thu Trâm, Khối 8406
Gần đây,
cuốn “BÊN THẮNG CUỘC” do một nhà báo, nguyên là cán binh cộng sản thời hậu
chiến, viết và xuất bản tại Hoa Kỳ và phổ biến rộng rãi bằng cả sách giấy và
sách điện tử, đã gây xôn xao trong trong các cộng đồng người Việt Nam tự do
định cư tại nhiều quốc gia trên thế giới, cũng như đối với cả người Việt Nam ở
quốc nội. Cũng nhiều lời khen, lắm tiếng chê cho “BÊN THẮNG CUỘC” bởi khách
quan mà nhìn nhận thì đấy là một trong những cuốn sách có nhiều thông tin từ cả
hai phía. Nhưng theo đa phần những người đã đọc qua thì “BÊN THẮNG CUỘC” chỉ
nói lên được một phần ba sự thật, còn lại chỉ toàn là dối trá, nhất là những
thông tin liên quan đến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đến các tướng lãnh, đến các
chính khách và ngay cả đến các Quân Cán Chính cũng như đồng bào miền Nam trước
cũng như sau ngày mất nước.
Tuy nhiên, cứ để những điều dối
gian, láo toét của “BÊN THẮNG CUỘC” cho độc giả nhận diện, bởi trắng là trắng,
đen là đen, trắng đen không thể nhập nhằng lẫn lộn được. Trong bài này, người
viết chỉ muốn một lần nhìn lại quê hương đất nước 38 năm sau ngày “thắng cuộc”
để nhẫm xem “BÊN THẮNG CUỘC” đã làm được gì cho đất nước cho dân tộc trong ngần
ấy thời gian.
Tất cả mọi người đều nhận thức được
rằng chính “BÊN THẮNG CUỘC” đã vi phạm hiệp định Geneva 1954 và hiệp định Paris
1973 khi xua quân xâm lược và bức tử chính thể Cộng Hòa tại miền Nam, xóa tên
Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia độc lập, hợp hiến, hợp pháp được Liên Hiệp
Quốc và cộng đồng Quốc tế công nhận, khỏi bản đồ thế giới. Nhưng ít ai nhớ rằng
không chỉ riêng Việt Nam Cộng Hòa, mà “BÊN THẮNG CUỘC” cũng bức tử luôn cả một "cái chính phủ" “Cộng Hòa
Miền Nam Việt Nam, Độc Lập – Dân Chủ - Hòa Bình – Trung Lập” do chính “BÊN
THẮNG CUỘC” nặn ra vào năm 1969, như một chiếc bánh vẽ nhằm hợp pháp hóa hành
động xâm lược miền Nam Việt Nam của cộng quân Bắc Việt. Điều cần nhắc lại ở đây
là trong hành động bạo ngược này của “BÊN THẮNG CUỘC” có được sự giúp sức của
một số trí thức xuẩn động của Miền Nam gồm
Huỳnh Tấn Phát, Phùng Văn Cung,
Nguyễn Văn Kiết, Nguyễn Đóa, Trần Bửu Kiếm, Ông Trần Nam Trung, Nguyễn Thị
Bình, Phùng Văn Cung, Cao Văn Bổn, Lưu
Hữu Phước, Nguyễn Văn Kiết, Dương Quỳnh Hoa và
Trương Như Tảng là toàn bộ nội các của cái chính phủ bị chú phỉnh đó.
Đây là những con người hoang tưởng mà quá tham vọng quyền lực trong một chính
phủ trung lập ở Miền Nam, nên đã đi “cầm cu cho chó đái” suốt từ tháng 6 năm
1969 cho đến tháng 7 năm 1976 là thời điểm mà đảng cộng sản Việt Nam tuyên bố rằng
“Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã hoàn thành vai trò
trong cuộc chiến tranh Việt Nam và chính thức chấm dứt mọi hoạt động của mình.”
tức là hô biến. Tất nhiên đó là thời điểm mà các nhân sỹ trí thức hoang tưởng
và xuẫn động đó nhận ra rằng thực ra cái chính phủ rằng “Chính phủ Cách mạng
Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam” và cái nội các của họ chỉ là một tổ chức
ma, một tổ chức ảo và là một tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản và họ chỉ là
những con rối được Bộ Chính Trị của cộng sản Bắc Việt điều khiển cho đến lúc
vãn tuồng thì được quăng vào sọt rác. Họ cảm thấy đau như thiến, nhưng đành
phải ngồi chơi xơi nước và ngậm bồ hòn mà chờ ngày đi theo các thánh tổ Mác-Lê
thôi. Họ cảm thấy đau, đau lắm khi họ nhận ra bản thân là những trí thức đúng
nghĩa mà lại bị mắc lừa những kẻ vô học xuất thân là những con người hoang đàng
chi địa, những kẻ thiến heo, chăn bò hay cao nhất là phu gác ghi đường sắt.
Nhưng đau thương hơn thế nhiều nữa
là hơn 1.100.000 người của “BÊN THUA CUỘC” là những nhân sỹ, trí thức bị “giáo
dục lại” bởi những “cán bộ quản giáo” là những người rất ít học, tại hàng trăm
trại cải tạo ở những chốn rừng thiêng nước độc mà không ít người vì không bao
giờ “thuộc bài” nên đã phải ở lại đó để ‘học tập” đến 17 năm trời và trong số
đó đã có đến 165.000 người đã vĩnh viễn gởi lại nắm xương tàn ở chung quanh
những trại cải tạo đó vì đòn thù, vì bệnh tật, vì đói khát và vì bị hành hạ.
Bên cạnh đó, “BÊN THẮNG CUỘC” cũng đã hành quyết hơn 95.000 người bị quy tội
phản động, âm mưu lật đổ chính quyền hay “có nợ máu với nhân dân”.
Không lâu sau khi “Thắng Cuộc”, “BÊN
THẮNG CUỘC” cũng đã xua đuổi hơn 1.500.000 thị dân bị quy là thành phần tư sản
và tiểu tư sản đến khai hoang lập ấp cũng ở những vùng rừng thiêng nước độc,
với mỹ từ “Đi Xây Dựng Vùng Kinh Tế Mới” nhường lại cơ ngơi của họ ở các đô thị
cho gia đình, bà con của “BÊN THẮNG CUỘC” đến ở dùm, khiến cho con cái của họ
phải thất học vì nghèo đói và vì không có bất cứ một cơ sở giáo dục nào ở giữa
chốn thâm sơn cùng cốc đó, hệ lụy là hàng chục ngàn thị dân và con cái của họ
cũng đã bỏ mình vì sơn lam chướng khí.
Nhiều người biết rằng vào mùa Xuân
1975 trước khi “BÊN THẮNG CUỘC” chiếm được Sài gòn thì nhiều cuộc công kích đã
nổ ra tại nhiều tỉnh thành của miền Trung và Nguyên với hàng hàng cuộc pháo
kích vào các đô thị gây ra những cái chết thương tâm của hàng trăm ngàn thường
dân ngay khi họ đang trú ẩn tại nhà cũng như khi hàng đoàn dân lành đang gồng
gánh con cái xuôi Nam, lánh nạn cộng sản thì hàng chục ngàn người gồm cả người
già và trẻ em đã chết dọc đường Quốc Lộ 1 bởi đạn pháo của cộng quân, nhưng
chắc ít người biết được rằng cũng vào thời gian đó, mà chính xác là vào tháng 3 năm 1975, một cánh
quân của “BÊN THẮNG CUỘC” đã truy đuổi và bắn trọng pháo trực xạ trong suốt nhiều
ngày vào đoàn người di tản suốt theo chiều dài của Tỉnh lộ 7B từ Pleiku xuôi về
Duyên Hải và đã nghiền nát hơn 160.000 đồng bào, để lại nỗi tang thương muôn
đời cho hàng trăm ngàn thân nhân của họ.
Chính vì vậy mà đồng bào miền Nam đã
quá kinh hoàng khi phải đội trời chung với “BÊN THẮNG CUỘC”, nỗi kinh hoàng đó
còn vượt trội hơn cả sự gian nguy, đói khát hay chết chóc ngoài biển cả khiến
cả 3.000.000 người đã phải liều mình đi tìm sự sống trong cái chết mà theo
thống kê của Liên Hiệp Quốc thì phải có đến phân nửa số người đi tìm tự do đó
đã vĩnh viễn không đến được bến bờ nào cả mà xấp xỉ 1.500.000 người, cả nam phụ
lão ấu, cả thân hào nhân sỹ là nguyên khí của quốc gia cũng đã phải nằm lại
muôn đời với biển cả.
Nhưng nhiều điều đó vẫn chưa phải là
mục tiêu tối thượng của “công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”
của “BÊN THẮNG CUỘC”, mà mục tiêu cuối cùng là biến Việt Nam thành một Tân
Cương, một Tây Tạng ở Đông Nam Á và biến người Việt thành một sắc tộc thiểu số
trên chính quê hương của mình và tự biến các lãnh đạo của đất nước trở thành
những Thái Thú của Bắc Triều.
Để thực hiện mục tiêu đó, về mặt đối
ngoại, “đảng và nhà nước” tăng cường hợp tác toàn diện với Bắc Kinh trên tinh
thần 4 tốt và 16 chữ vàng, từng bước dâng nhượng đất đai vùng biên giới, đất
rừng đầu nguồn cùng hàng triệu cây số vuông mặt nước biển và hai quần đảo Hoàng
Sa – Trường Sa cho mẫu quốc Trung cộng cùng với việc đón tiếp hàng chục ngàn thương gia của Trung cộng sang điều
hành các công ty xí nghiệp, các trung tâm thương mại để buôn bán các loại hàng
hoá sản xuất từ bản quốc Trung cộng cho người tiêu dùng Việt nam, cùng với việc
đón tiếp hàng trăm ngàn công nhân quốc phòng đến khai thác Bô xit ở Tây Nguyên,
đến xây dựng các công trình, nhà máy do các công ty của Trung cộng thắng thầu.
Trong khi đó tỉ lệ thất nghiệp thường xuyên của người Việt hiện lên đến hơn 70%
dân số. Nhiều người phải mưu sinh bằng nghề nhặt rác, bán sức lao động tại các
khu chợ cơ bắp với những công việc nặng nhọc nhưng rất thất thường nên cuộc
sống của họ chỉ là những chuổi tháng ngày lo âu và đói khát triền miên… Lầu đài
phố xá càng mọc lên sầm uất để càng tạo lên cái dáng vẻ phồn vinh dường như thể
đất nước đã chuyển mình… thì số lượng người dân nghèo đói ăn, đứt bữa lại càng
tang, nhiều người phải phá rừng phải chấp nhận làm kiếp lâm tặc để gia đình con
cái không phải bị chết đói. Khắp các đô thị của Lào, Cambodge, Thái Lan, Mã
lai, Tân Gia Ba… đâu đâu cũng có người Việt đi xin ăn, đi trộm cắp, móc túi
hoặc đi bán trôn nuôi miệng. Từ các nước cùng Châu Á cho đến Châu Âu và mãi đến
tận Châu Phi đâu đâu cũng có hằng trăm ngàn cho đến hàng triệu lao nô người
Việt. Nhưng đó thực ra chưa phải là bộ mặt hoàn chỉnh của đất nước Việt Nam 38
năm sau khi đặt dưới quyền cai trị của “BÊN THẮNG CUỘC”, bởi dẫu chưa có những
vụ cha mẹ phải ăn thịt con hoặc người phải ăn thịt người để sống như ở Bắc Hàn
hay Trung Cộng, nhưng việc cha mẹ phải báncon đi làm nô lệ tình dục, anh chị em
họ hàng, bè bạn và những kẻ đang yêu cũng lừa bán nhau qua biên giới, vào những
động mại dâm là điều chưa bao giờ xãy ra trong xã hội miền Nam của 38 năm
trước, nhưng lại quá phổ biến trong xã hội Việt Nam ngày nay. Nhưng đâu phải
chỉ có thế thôi, bởi trong xã hội của “BÊN THẮNG CUỘC”, cái ác đã trở thành một
thứ tôn giáo phổ thong mà số tín đồ của tôn giáo này đang gia tăng với cấp số
nhân mà công bội là một gia số tỷ lệ thuận với số lượng đảng viên CS được phát
triển mới hàng năm: Chưa bao giờ trong xã hội Việt Nam trước đây mà số những vụ
việc cướp của giết người lại xãy ra thường xuyên và độ tuổi của kẻ thủ ác lại
trẻ hóa như ở thiên đường XHCN của “BÊN THẮNG CUỘC”, hiện nay, những kẻ giết
người cướp của có cả độ tuổi “thần tiên’ 13, 14 cả nữ lẫn nam, cả học sinh còn
ngồi trên ghế nhà trường lẫn những cán bộ viên chức nhà nước, kể cả công an, bộ
đội, hay vợ con của những đảng viên cao cấp, mà lắm khi giết chết một mạng
người chỉ để cướp một món vật dụng chẳng giá trị là bao như một chiếc điện
thoại cầm tay, một chiếc xe máy đã qua sử dụng hay thậm chí chỉ là một món nữ
trang mà đôi khi chỉ là hàng mỹ ký. Chưa bao giờ mà nền tảng đạo đức xã hội lại
băng hoại như ở Việt Nam ngày nay: Người đứng đầu chính phủ thì tham ô những
lại tới mức quốc dân phải gánh số nợ công lên đến hàng trăm tỷ đô la, nên nỗi
người dân Việt vốn đã đói nghèo, vậy mà mỗi đầu người phải gánh số nợ xấp xỉ
1.000 đô la trong khi thu nhập mỗi ngày của họ chưa đến 1 đô la thì người dân
Việt phải sống như thế nào đây? Các các quyền thuộc cấp thì ngoài ăn chơi sa
đọa bằng tiền máu xương của nhân dân, còn thêm trò mua ấu dâm với những trẻ con
chỉ ở độ tuổi bằng cháu nội, cháu ngoại. “Lương sư, hưng quốc” nhưng lại quá
phổ biến nạn thầy giáo cưỡng dâm học trò lớp ba lớp bốn, hiệu trưởng thì môi
giới cho nữ sinh trung học bán dâm cho quan chức cấp tỉnh, giảng viên đại học
thì gạ tình sinh viên để đổi lấy điểm thi.
Có thể nói rằng xã hội Việt Nam sau
38 năm dưới sự cai trị của “BÊN THẮNG CUỘC”, đã quá loạn lạc đến độ không thể
loạn lạc hơn: Vợ đốt chồng để dễ dàng thông dâm với các quan chức, chồng giết
vợ phi tang xác dưới sông hay bạn bè đồng nghiệp chỉ vì bất hòa nhỏ trong cuộc
sống, trong công việc mà giết hại lẫn nhau rồi chặt xác ra từng mảnh và cho vào
bao bố để phi tang… Đã có bao giờ trước
đây hay có nơi nào trên thế giới hiện nay người ta coi sinh mạng của con người
như rác, như rơm, để việc giết người, thậm chí là giết cả người thân yêu một
cách quá đơn giản như giết một con sâu, con kiến, như ở Việt Nam hiện nay
không? Phải chăng đây là nghiệp chướng của quê hương hay hay chỉ do sự suy đồi
đạo đức của xã hội do con người không biết trân trọng nền giáo dục khai phóng
và nhân bản mà chỉ coi trọng “tư tưởng và đạo đạo đức Hồ Chí Minh” và chỉ học
theo “đạo đức Hồ chí Minh” khiến cho xã hội băng hoại và loạn lạc ra như thế?
Sao các trí tuệ đỉnh cao không thấy
được những việc này để có thể có được những quyết sách khả dĩ có thể giúp chấn
hưng nòi giống và phục hưng nền tảng đạo đức xã hội, mà chỉ đầu tư tiền bạc từ
các nguồn thuế thu từ xương máu của nhân dân để mở mang nhà tù, để gia cố trại
giam mà giam cầm những người yêu nước? Sao lại biến cả dân tộc Việt Nam thành
những con người nô lệ, phải cúi đầu phải vâng phục, phải lắng nghe và tuyệt đối
tin tưởng vào đảng cộng sản và sự lãnh đạo của đảng, cho dù đảng đang bán dần
đất đai của tổ quốc và đang đặt dân tộc trước một hiểm họa bị đồng hóa và đặt
đất nước nước trước một đại họa mất hoàn toàn vào tay giặc, để cho những người
con của dân tộc nặng lòng với vận mệnh của quê hương đất nước, với sơn hà xã
tắc phải lụy chốn lao tù? Con người ta hơn các loài vật khác là nhờ con người
ta biết tư duy và biết sống theo lý trí chứ không phải bản năng. Vậy sao “BÊN
THẮNG CUỘC” lại cấm không cho người dân Việt được tư duy, được sống và hành
động theo lý trí, mà lại buộc cả 90 triệu đồng bào Việt Nam phải sống chỉ bằng
bản năng rằng “đảng bảo đi là đi đảng bảo đứng là đứng”? Và ngay cả những người
Việt Nam đã vượt thoát mọi sự kiềm tỏa của “BÊN THẮNG CUỘC”, đã định cư ở các
nước tự do hàng thập kỷ nay rồi sao lại cấm đoán, không cho họ tham gia vào các
đảng phái chính trị nào? Sao lại bắt bớ, lại giam cầm “những khúc ruột ngàn dặm” đó khi họ về lại
thăm lại cố hương? Sao lại quy kết cho họ tội danh “âm mưu lật đổ chính quyền”
như đã từng quy kết cho những trí thức, sỹ phu, những người ở quốc nội yêu nước
mà không yêu chế độ cộng sản? Những người nặng lòng với đất nước đó cũng đã
từng bị kết tội “âm mưu lật đổ chính quyền” hay “tuyên truyền chống nhà nước”
hay “làm giảm lòng tin của nhân dân đối với đảng”? Xin thưa rằng cả 90 triệu
người dân Việt Nam hiện nay chẳng còn ai có một chút ít lòng tin nào vào đảng
cộng sản và chế độ cộng sản cả! Cả thế giới loài người đều đã biết quá rõ cộng
sản là gì rồi. Và người Việt Nam cũng đã biết được điều này. Tiếc rằng sau 38
năm cầm quyền, “BÊN THẮNG CUỘC” đã biến đất nước Việt Nam thành một nhà tù lớn
với hàng chục ngàn nhà tù nhỏ để giam cầm, để đọa đày những con dân đất Việt
nặng lòng với dân tộc với quê hương, cho nên quê hương Việt Nam mới ngày càng
điêu tàn, dân tộc Việt Nam mới ngày càng đớn hèn và nhu nhược như thế này!
Đây là một bức tranh toàn cảnh của
quê hương Việt Nam 38 năm sau ngày “THẮNG CUỘC”. Và ai mà biết được rằng sau 38
năm nữa, liệu người Việt trên quê mình
có còn được phép nói tiếng Việt nữa hay không!
Ngày cuối năm Nhâm Thìn
DienDanCTM
nguồn: http://quynhtramvietnam.blogspot.com/2013/02





RSS Feed
Facebook
Twitter
0 comments:
Đăng nhận xét