“Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị
phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng
công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng
trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu
tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa
An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người,
gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết
bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị
chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.”
Phần trên là một trích đoạn trong bài viết
tựa đề “Biên Giới Tháng Hai” (1979-2009) của nhà báo Huy Đức đăng trên báo Sài
Gòn Tiếp Thị ngày 9/2/2009. Chỉ nội buổi sáng hôm đó bài báo này của Huy Đức đã
bị rút xuống. Bài “Biên giới tháng hai” tuy không dài, nhưng đã ghi lại
nhiều chi tiết sống động về cường độ của cuộc chiến tranh biên giới phiá bắc năm 1979 và tinh thần chiến đấu dũng mãnh của quân đội Việt Nam. Trích đoạn ngắn nêu trên tuy cô đọng nhưng nêu bật lên sự tàn bạo của quân đội Trung Quốc trên đất nước Việt Nam. Bên cạnh đó, sự kiện bài báo của Huy Đức bị rút xuống chỉ sau vài tiếng đồng hồ xuất hiện cũng cho thấy thái độ của nhà cầm quyền CSVN đối với xương máu của hàng chục nghìn chiến sĩ và đồng bào Việt Nam trong cuộc chiến bảo vệ tổ quốc này, một thái độ mà sau này càng được tô đậm thêm bằng tính chất “hèn với giặc, ác với dân” của nhà cầm quyền Hà Nội.
nhiều chi tiết sống động về cường độ của cuộc chiến tranh biên giới phiá bắc năm 1979 và tinh thần chiến đấu dũng mãnh của quân đội Việt Nam. Trích đoạn ngắn nêu trên tuy cô đọng nhưng nêu bật lên sự tàn bạo của quân đội Trung Quốc trên đất nước Việt Nam. Bên cạnh đó, sự kiện bài báo của Huy Đức bị rút xuống chỉ sau vài tiếng đồng hồ xuất hiện cũng cho thấy thái độ của nhà cầm quyền CSVN đối với xương máu của hàng chục nghìn chiến sĩ và đồng bào Việt Nam trong cuộc chiến bảo vệ tổ quốc này, một thái độ mà sau này càng được tô đậm thêm bằng tính chất “hèn với giặc, ác với dân” của nhà cầm quyền Hà Nội.
Trong những năm vừa qua, ngày càng có nhiều
bài viết về cuộc chiến tranh biên giới phía bắc 34 năm trước của những nhà
nghiên cứu cũng như của các nhân chứng trực tiếp hoặc đã từng tham dự cuộc chiến
đó. Vì vậy, bài viết này chỉ ghi lại một số những điểm nổi bật đáng chú ý liên
quan đến trận chiến nhưng ít thấy được trình bày trong các bài viết liên quan.
1/ Bối cảnh và nguyên nhân:
Sau khi chiếm trọn miền nam năm 1975, có thể
nói là CSVN đã bước lên “đỉnh cao” của chiến thắng. Từ đó tư thế của Hà Nội
cũng được nâng cao lên rất nhiều so với thời gian trước, qua sự mở rộng bang
giao với hàng chục quốc gia và trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế
thay chỗ cho vị trí của Việt Nam Cộng Hoà trước năm 1975. Thế nhưng, để có được
những chiến thắng quân sự mà cho đến nay đảng CSVN vẫn coi như là tiền đề cho sự
nắm quyền tất yếu của họ, thì những chi viện khổng lồ của Trung Quốc cho Hà Nội
trong cả hai cuộc chiến trước đó lại là yếu tố vô cùng quan trọng. Nếu không được
sự chi viện này thì có phần chắc là CSVN sẽ chẳng đạt được một chiến thắng nào
mà họ vẫn thường khoe.
Trong nghiên cứu về lịch sử Việt Nam từ năm
1945 đến 1975, ở phần đề cập đến sự chi viện của Trung Quốc, giáo sư Lê Xuân
Khoa đã nhận định rằng: (Trong cuộc chiến chống Pháp) “Trung Quốc đã nhận lấy
phần công lao lớn nhất. Dù có duy trì được thanh danh về vai trò chủ động trong
cuộc chiến, đảng Cộng sản Việt Nam vẫn phải mang một món nợ lớn đối với đảng Cộng
sản Trung Quốc, do đó vô hình trung đã tự đặt mình và cả dân tộc vào quĩ đạo của
Bắc Kinh. Món nợ đối với Trung Quốc còn to lớn hơn nữa trong cuộc chiến
1955-1975. Quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh trở nên phức tạp và khó khăn khi đảng
Cộng sản Việt Nam bị mắc kẹt giữa cuộc tranh chấp Liên Xô-Trung Quốc vào những
năm cuối 1960 và đầu 1970” ..... “Nhưng đến năm 1971 thì Bắc Kinh lại xoay chiều
đi đêm với Mỹ. Khi Mao Trạch Đông chính thức đón chào Tổng thống Mỹ Nixon năm
1972 thì quan hệ Việt-Trung bắt đầu rạn nứt trầm trọng và tan vỡ năm 1975.”
Cùng với món nợ TQ kể trên, sau năm 1975
tình hình thế giới, kể cả hai phía tự do và cộng sản, cũng có nhiều đổi khác. Với
tâm lý kiêu ngạo sau chiến thắng, CSVN lúc đó đã không bắt kịp được những thay
đổi trong các nhận thức mang tính cách chiến lược của những cường quốc có nhiều
ảnh hưởng đến Việt Nam, dù rằng họ nhận biết được sự phức tạp trong bối cảnh
đó. Kế hoạch “Liên Bang Đông Dương” thách đố tham vọng của TQ trong vùng, vụ “nạn
kiều” (sự phân biệt đối xử đối với Hoa Kiều ở VN) được coi là những nguyên nhân
gián tiếp của cuộc chiến năm 1979. Trong khi đó, việc Việt Nam ký “Hiệp ước hữu
nghị và hợp tác toàn diện” với Liên Xô vào cuối tháng 11 năm1978 được Bắc Kinh xem như là một hành vi
thù nghịch của Việt Nam nằm trong mưu toan bao vây Trung Quốc của Liên Bang Sô
Viết. Bắc Kinh đã gán nhãn hiệu cho Việt Nam là “tiểu bá quyền” và Liên Xô là
“đại bá quyền”. Rồi sau đó, khi TQ đang ủng hộ và khuyến
khích các cuộc tấn công VN của “người anh em xã hội chủ nghĩa” Kampuchia dọc
biên giới tây nam của Việt Nam, thì tháng 12 năm 1978, VN tràn quân sang Cam Bốt
đuổi lực lượng Polpot ra khỏi Nam Vang, khiến TQ bị mất mặt. Hai điều này được
coi là nguyên nhân trực tiếp khiến CSTQ động binh để “dạy VN một bài học” về sự
“vô ơn bạc nghĩa” của CSVN.
2/ Những dấu hiệu và chuẩn bị chiến
tranh.
Những sự kiện liên quan đến cuộc chiến biên
giới phía bắc được Huy Đức ghi lại trong “Bên Thắng Cuộc” cho thấy phía Việt
Nam đã hoàn toàn bị bất ngờ về trận tấn công này. Trong bài viết mới đây, một
blogger đã thuật lại chuyện ngày 16/2/1979 (trước hôm cuộc chiến mở màn 1 ngày)
một đại tá Quân đội NDVN đã nói chuyện với một đơn vị quân đội ở Lạng Sơn rằng “có
cho kẹo TQ cũng không dám đánh VN”. Việc đưa quân sang Kampuchia cũng như
cho một thành phần quân đội giải ngũ về làm kinh tế quả thực đã khiến VN bị bất
ngờ trước cuộc tấn công của TQ. Sự bất ngờ cũng có thể là về mức độ tham chiến
quá to lớn của TQ . Tuy bất ngờ, nhưng trong năm trước đó cả TQ lẫn VN đều đã
có một số phối trí lực lượng và hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến
chiến dịch biên giới.
Về ngoại giao, sau năm 1975 thái độ thù nghịch
của Bắc Kinh đối với Hà Nội ngày càng gia tăng. Tháng 6 năm 1978, Bắc Kinh
thông báo việc đóng cửa các tòa lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Nam Ninh và
Côn Minh. Đến tháng 11/1978 thì TQ cắt đứt các tuyến đường xe hỏa giữa Trung Quốc
và Việt Nam.
Về quân sự, theo các tài liệu của Hoa Kỳ
thì vào tháng 7/1978, sư đoàn 3 của Việt Nam đã được điều động đến Lạng Sơn. Một
tháng sau, sư đoàn vận tải 571 cũng bắt đầu chuyển vận tiếp liệu, vũ khí, đạn
dược, quân trang, quân dụng v.v.. cho quân khu I và II. Những hoạt động tiếp liệu
này liên tục trong suốt những tháng còn lại của năm 1978. Nhiều cứ điểm phòng
không của VN được thành lập ở những nơi quan trọng dọc biên giới. Thanh niên
trong vùng biên giới được huấn luyện cơ bản quân sự.
Ở Cao Bằng, đầu tháng 2/1979, Sư Đoàn 346
và 311 được điều động đến khu vực này để kết hợp phòng thủ với với các Trung
Đoàn 567 và 852 đã có sẵn tại chỗ. Vào cuối năm 1978 (hoặc mấy tuần lễ đầu năm 1979)
Sư Đoàn 316A và Trung Đoàn 254 được đưa đến khu vực Lào Cai để kết hợp với Sư
Đoàn 345.
Về phía Trung Quốc, từ tháng 10/1978 đến đầu
tháng 2/1979, nhiều đại đơn vị quân đội TQ thuộc các quân khu Côn Minh, Quảng
Châu, Thành Đô đã được điều động đến biên giới Việt Nam. Thậm chí quân đoàn 20
của quân khu Vũ Hán, cách biên giới 1200 km, cũng được điều về mặt trận biên giới
VN.
Phía TQ đã cố gắng che giấu những cuộc chuyển
quân này. Các cuộc chuyển quân đều được thực hiện vào ban đêm. Ban ngày binh sĩ
được nghỉ ngơi ở những khu vực đã được ngụy trang kỹ lưỡng. Lệnh giới nghiêm
cũng được áp dụng tại các điạ phương dọc đường chuyển quân.
Song song với các cuộc điều quân vừa kể, từ
tháng 10/1978 cho đến ngày 15/2/1979, TQ liên tục tung ra hàng loạt những hoạt
động dò thám các đơn vị quân đội VN, vừa để thu lượm tin tức tình báo, vừa để
đánh lạc hướng sự chú ý trong các hoạt động quân sự của TQ.
Ngược lại, đơn Vị 352 của Trung Quốc cũng
ghi nhận nhiều hoạt động xâm nhập của phía Việt Nam. Theo những ghi nhận này
thì Việt Nam đã thực hiện các cuộc đột kích bằng các nhóm binh sĩ nhỏ, trà trộn
vào dân chúng địa phương, tìm cách thu thập tin tức hay quấy rối các hoạt động
của quân Trung Quốc. Đôi khi cũng phá hoại các đồn chỉ huy và các căn cứ tiếp
liệu. Nhưng với các hoạt động này, phía lãnh đạo VN vẫn không tin TQ sẽ mở cuộc
đánh lớn.
3/ Tương quan lực lượng
Vào sáng ngày 17 tháng 2, 1979, khi cuộc tấn
công của TQ bắt đầu, phía Việt Nam có khoảng 15 trung đoàn chiến đấu thuộc 5 sư
đoàn quân chính quy, trải rộng trên các mặt trận Lào Cai, Cao Bằng, và Lạng
Sơn. Hỗ trợ cho lực lượng vừa kể là dân quân và một số đơn vị biên phòng. Tổng
số các lực lượng phòng thủ của VN ước lượng khoảng 50,000 người.
Để tấn công lực lượng vừa kể của VN, phía
TQ có hơn 100 trung đoàn chiến đấu với tổng cộng khoảng 450,000 quân. Tương
quan lực lượng giữa hai bên ít nhất là sáu trên một. Một số nơi tỷ lệ này cao
hơn nhiều. Tại khu vực quanh Lạng Sơn, cán cân lực lượng ít nhất là mười trên một,
nghiêng về phía Trung Quốc.
Ba ngày trước khi TQ tuyên bố rút quân,
ngày 2/3 phía VN thành lập Quân Đoàn 5 trong Quân Khu I, gồm các Sư Đoàn 337,
338, 327, và 347 và các đơn vị yểm trợ có sẵn hoặc ở gần Lạng Sơn cho tuyến
phòng thủ Sông Cầu. Một tuyến phòng thủ tương tự như tuyến sông Như Nguyệt thời
nhà Lý thế kỷ 11. Cho đến tháng 7/1979, VN đã tiếp tục tái cấu trúc quân đội,
thiết lập hay di chuyển 7 quân đoàn đến chiến trường biên giới.
Về không quân, để chuẩn bị cho chiến dịch
biên giới, không quân TQ đã nâng cấp, tái phối trí các đơn vị không quân và
phòng không ở quân khu Côn Minh và Quảng Châu. Có khoảng từ 800 đến 1000 máy
bay và 20 ngàn binh sĩ không quân đã được điều động đến hai quân khu này. Lực
lượng không quân TQ đáng kể là 80 chiến đấu cơ Mig 21, số còn lại là loại chiến
đấu cơ Mig 17, Mig 19 cũ kỹ và các loại phi cơ khác. Trong khi đó phía VN có
khoảng 70 Mig 21. Tuy có số lượng áp đảo nhưng không quân TQ không đóng vai trò
nào đáng kể trong trận chiến ngoài việc tiếp liệu và chuyển vận. Có lẽ TQ cũng
tự nhận biết về khả năng kém cỏi của các phi công TQ so với phi công VN. Bài học
không chiến trong trận eo biển Kim Môn, Mã Tổ với Đài Loan vào đầu thập niên 60
đáng để họ ghi nhớ. Cứ một chiến đấu cơ Đài Loan đổi lấy 3 phi cơ TQ cùng thế hệ.
Ngoài ra, trong thập niên 70, cả thế giới đều biết lực lượng phòng không dày đặc
ở bắc Việt, đây hẳn là điều khiến TQ không dám dùng đến không quân tấn công
trong trận chiến.
Cũng như không quân, hải quân TQ chuẩn bị
tinh thần bằng những đợt học tập chính trị và một số cuộc diễn tập. Tuy nhiên,
hải đội 217 gặp nhiều trở ngại kỹ thuật từ trên cơ xưởng xuống đến đến các chiến
hạm, thậm chí thuỷ thủ còn bị say sóng.... Với kết quả yếu kém trong diễn tập,
chẳng hạn như chỉ có 20 phần trăm các đạn hải pháo của tàu mang số hiệu 48 bắn
trúng mục tiêu; cũng như khả năng thông tin liên lạc tồi tệ trên biển (khiến đội
hình bị rối loạn); cuối cùng, thay vì là lực lượng tấn công, hải quân TQ quay về
phòng thủ trên bờ. Một yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến hoạt động của hải quân
TQ là họ lo ngại đụng độ với hạm đội Liên Xô. Ngày 21/2/1979, Hạm Đội Thái Bình
Dương của Sô Viết, đặt căn cứ tại Vladivostok, đã đưa một tuần dương hạm và một
khu trục hạm trang bị hỏa tiễn xuống biển Đông của VN.
Nếu lực lượng hải quân của TQ vượt trội về
hoả lực lẫn kỹ thuật, có lẽ TQ đã tính đến chuyện đổ bộ ở Thanh Hoá để chiếm
lĩnh và chia cắt VN, ngăn chặn VN chuyển quân từ miền nam ra, đồng thời tạo gọng
kìm từ phía sau xiết chặt và tiêu diệt lực lượng VN ở miền bắc chỉ bằng khoảng
1/10 lực lượng quân TQ
4/ Tổng quát về ý đồ và chiến trận
Như đã đề cập trong phần tương quan lực lượng
ở trên, trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 TQ đã dùng đến một lực lượng
khổng lồ gộp lại của từ 9 đến 10 quân đoàn để đè bẹp một lực lượng khoảng 5 sư
đoàn của VN trong một chiến dịch “tốc chiến tốc thắng”, nhưng trận chiến đã diễn
ra khác xa với ý định của Trung Quốc.
Sáng ngày 17/2/1979, mặc dù các cuộc tấn
công của TQ diễn ra trên cả biên giới 6 tỉnh phía bắc của VN, nhưng chủ yếu là ở
3 mặt trận Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào Cai. Ngoài 3 mặt trận này, TQ đã tấn công
ít nhất là 39 địa điểm trên dọc biên giới dài 1281 cây số. Tuy nhiên thường chỉ
là những cuộc tấn công ở cấp đại đội; ngoại trừ ở mặt trận Quảng Ninh, có lẽ
trong chiến thuật nghi binh để phân tán lực lượng VN, TQ đã dùng đến cấp trung
đoàn liên tục tấn công bằng chiến thuật “tiền pháo hậu xung” (pháo kích phủ đầu
gây thiệt hại nặng cho đối thủ rồi xung phong chiếm lĩnh mục tiêu) nhưng tất cả
đều bị thất bại vì bị trúng mìn bẫy và sự kháng cự mãnh liệt của của các đơn vị
VN nhỏ bé hơn nhiều. Trong những loan báo “thắng trận” của TQ sau đó, một số địa
danh chiến trận được Trung Quốc đề cập đến, nhưng không hề có một địa danh nào ở
Quảng Ninh.
Ở 3 mặt trận chính là Lạng Sơn, Cao Bằng và
Lào Cai, TQ đã dùng đến những lực lượng lớn hơn VN từ 7 đến 10 lần để tấn công.
Hiển nhiên là TQ muốn “tốc chiến tốc thắng” để đúng với mục tiêu “dạy VN một
bài học”. Tuy nhiên ý định này còn mang những ý nghĩa quan trọng khác.
Ở mặt trận Lạng Sơn, TQ đã dùng 9 sư
đoàn bộ binh thuộc 3 quân đoàn 43, 54, 55 để tấn công 1 sư đoàn duy nhất,
là sư đoàn 3 của VN, đã đào hào chiến đấu xung quanh Lạng Sơn. Với lực lượng
này sư đoàn 3 VN đã cầm chân lực lượng TQ cho đến ngày 5/3, TQ chiếm được đồi
413 ở hướng tây nam thành phố thì trận đánh Lạng Sơn mới kết thúc. Đó cũng là
ngày TQ loan báo việc rút quân.
Chỉ riêng ở chiến trường Lạng Sơn là có các
đơn vị mới được điều động đến để cứu ứng. Các Sư Đoàn 377, 337, và 338 của
phòng tuyến Sông Cầu sau cùng đã được tung ra để chiến đấu từ ngày 2/3. Tuy đã
hơi trễ nhưng cũng góp phần trong việc truy kích quân TQ rút lui.
Tại mặt trận Cao Bằng, quân số tham dự của
TQ lên đến 200 ngàn người, thành phần chính thuộc các quân đoàn 41, 42 (quân
khu Quảng Châu), quân đoàn 12 và 20 (quân khu Nam Kinh), và quân đoàn 50 (quân
khu Thành Đô). Về phía Việt Nam có các trung đoàn 677, 246, 852 của sư đoàn
436. Thêm vào đó là trung đoàn 481 (có lẽ là lực lượng trừ bị của sư đoàn 436).
Cao Bằng bị mất ngày 25 tháng 2. Trung Quốc
tuyên bố đã tiêu diệt các Trung Đoàn 677 và 681 (có lẽ là 481) thuộc Sư Đoàn
346 của Việt Nam, và ngày hôm sau cũng tuyên bố đã hủy diệt tàn quân của Trung
Đoàn 246. Trong một tuần chiến đấu, lực lượng một sư đoàn VN (kể cả các đơn vị
hỗ trợ, tổng cộng chỉ khoảng từ 10 đến 15 ngàn người) đã cầm chân 200 ngàn quân
tấn công TQ. Tuy nhiên, 2 ngày sau đó và cho đến những ngày đầu tháng 3, các lực
lượng VN vẫn liên tục tấn công giành giựt phi trường Thất Khê, phản công tại Quảng
Uyên và Trà Lĩnh. Nếu sư đoàn 346 đã bị tiêu diệt như TQ tuyên bố thì lực lượng
nào đã tấn công phía sau TQ như vừa kể?
Ở Mặt Trận Lào Cai, lực lượng của TQ gồm 3
quân đoàn, là quân đoàn 11 và 13 (quân khu Côn Minh), quân đoàn 14 (quân khu
Thành Đô). Tổng cộng quân số khoảng 125 ngàn người. Về phía VN có 6 trung đoàn
thuộc sư đoàn 316 và 345 với quân số khoảng 20 ngàn người. Sư đoàn 316 của VN cầm
cự với quân đoàn 13 của TQ, phải hai ngày sau TQ mới chiếm được Lào Cai nhưng vẫn
phải đương đầu với các cuộc chạm súng lẻ tẻ xung quanh thi trấn. Còn sư đoàn
345 VN phải cầm cự với hai quân đoàn 11 và 14 của TQ. Tuy vậy, sau 5 ngày giao
tranh phía TQ chỉ tiến thêm được khoảng 2 cây số trong lãnh thổ VN. Cuộc chiến
giữa sư đoàn 316 VN và quân đoàn 13 của TQ tiếp diễn cho đến ngày 5/3.
5/ Kết quả
Như đã đề cập ở trên về ý định “tốc chiến tốc
thắng” của TQ không chỉ mang tính cách dùng quân sự “dạy cho VN một bài học”,
mà còn mang một ý nghĩa quan trọng khác. Vị trí của của Lạng Sơn và Lào Cai nói
lên ý nghĩa này. Lạng Sơn cách Hà Nội khoảng 150 cây số, có đường hoả xa, có quốc
lộ 1A là xa lộ tốt nhất của VN nối Lạng Sơn với Hà Nội. Tương tự, Lào Cai cách
Hà Nội 295 cây số và là một đầu mối giao thông đến Hà Nội bằng đường hỏa xa, đường
bộ và đường sông. Do đó chiếm được hoặc là Lạng Sơn, hoặc là Lào Cai cũng đều
là chiếm được cửa ngõ đi đến Hà Nội và khống chế vùng châu thổ sông Hồng. Việc
TQ tập trung lực lượng lớn gấp nhiều lần để dự định tấn công dứt điểm cho thấy
ý nghĩa hệ trọng này. Hẳn nhiên là phía VN cũng nhận ra như vậy nên đã lập
phòng tuyến Sông Cầu như đã đề cập ở trên.
Tuy về lý thuyết thì cuộc chiến biên giới
phía bắc đã chấm dứt vào tháng 3/1979, nhưng trên thực tế thì những trận đánh lẻ
tẻ, giằng dai ở biên giới vẫn xẩy ra trong suốt một thập niên sau đó. Đặc biệt
là trận chiến giành giật Núi Đất (Lão Sơn) vào năm 1984, một điểm cao chiến lược
và được coi là vùng có nhiều tài nguyên khoáng sản. Con số thương vong về phía
VN lên đến gần 4 ngàn người. Cuối cùng cao điểm này bị TQ chiếm. Biên giới tại
đó được dời về phía nam khoảng 5 cây số. Ngoài ra, trong quyển “Sự thực về quan
hệ VN-TQ trong 30 năm qua” được CSVN phát hành vào tháng 10/1979 có phần đề cập
đến 15 địa điểm của VN gần biên giới bị TQ lấn chiếm. Tuy nhiên, từ khi CSVN khẩn
nài TQ cho trở trở lại vai trò đàn em vào đầu thập niê n 1990 thì các vùng đất
đai bị lấn chiếm này không còn được nhắc đến nữa.
6/ Những hệ luỵ :
Sau cuộc chiến, hiến pháp năm 1980 của VN
có thêm điều khẳng định “Trung Quốc là kẻ thù”. Nhưng chỉ 8 năm sau, khi TQ trở
thành cái phao mà CSVN mong được bám vào trong lúc gần chết đuối, thì Hà Nội bắt
đầu tìm cách tẩy xoá điều này trong hiến pháp và hầu hết các chứng tích dữ kiện
lịch sử. Cũng năm đó, các chiến sĩ trong trận Trường Sa đã bị Bộ Chính Trị đảng
CSVN để mặc nhiên trở thành những “bia tập bắn” cho lính TQ thẳng tay tàn sát. Bắc
Kinh tiếp tục tung ra đoạn phim tàn sát này trên mạng Internet cho cả thế giới
xem. Kể từ đầu thập niên 1990, đặc biệt sau hội nghị Thành Đô mà lãnh đạo CSVN
xin thần phục Bắc Kinh trở lại, cuộc chiến năm 1979 đã trở thành một chủ đề cấm
kị mà đảng và nhà nước CSVN không chỉ cấm người dân nhắc đến mà còn xóa luôn
trong sách giáo khoa và quân sử. Những từ ngữ "nước lạ", "tàu lạ",
"quân nước ngoài", ... cũng bắt đầu xuất hiện. Cuốn sách “Những sự kiện
lịch sử Việt Nam (từ 1945-2010) do hai tác giả Minh An và Bình An biên soạn, NXB
Thanh Niên ấn hành quí 4-2010, trong phần tháng 2, 3/1979 không có có một chữ
nào nhắc đến cuộc chiến bảo vệ tổ quốc tháng 2/1979.
Với việc giới lãnh đạo CSVN tiếp tục giấu bặt
các tấm bản đồ đi kèm với Hiệp Định Biên Giới Việt Trung suốt từ năm 1999 đến
nay, phần lớn công luận tin rằng họ đã chính thức nhượng hẳn các vùng bị lấn
chiếm suốt thập niên 1979-1989 cho Bắc Kinh.
Sang thế kỷ 21, với 4 tốt, 16 chữ vàng được
TQ ban cho, thì ngành ngoại giao CSVN bỗng nhiên có nhiều quan chức không mệt mỏi
bênh vực cho quan điểm bành trướng và xâm lăng của TQ. Nhiều vùng đất, vùng biển
của VN đã hàng ngàn năm bỗng dưng trở thành “vùng tranh chấp” với TQ để được
thương thảo phân chia lại. Phần nào thuộc TQ thì TQ giữ, phần nào của VN thì cả
2 nước “khai thác chung”. Thứ trưởng ngoại giao CSVN khẳng định Ải Nam Quan chưa
bao giờ là đất Việt Nam.
Và không chỉ cuộc chiến 1979 biến mất trong
sử sách, Bộ Giáo Dục Đào Tạo còn sửa các sách giáo khoa để học sinh không còn
biết tổ tiên Việt Nam đã chống lại quân xâm lược nào suốt 5000 năm trước.
Luật pháp VN có thêm luật bất thành văn
nhưng ngày càng được nghiêm túc áp dụng. Đó là bất cứ người Việt nào mở miệng
phản đối TQ xâm lược hoặc lên tiếng đòi bảo vệ chủ quyền VN đều là những kẻ đang
“phạm tội”, và phải bị trấn áp, trừng phạt.
Nhưng nhẫn tâm hơn cả, tại các tỉnh phía Bắc,
nơi xảy ra cuộc chiến, các nghĩa trang tử sĩ hy sinh bảo vệ tổ quốc đều đìu hiu
hoang vắng. Những nấm mồ tử sĩ đều hương tàn khói lạnh, không ai chăm sóc. Những
tấm bia ghi lại lý do của sự hy sinh cao cả của họ đều bị đập phá, đặc biệt những
tấm có ghi dòng chữ “quân Trung Quốc xâm lược”. Trong khi đó, các quan chức Việt
dọc biên giới được lệnh kéo từng đoàn sang bên kia biên giới hàng năm với các vòng
hoa mang băng chữ “Đời đời nhớ ơn liệt
sĩ TQ”. Và đến tận hôm nay, các khẩu hiệu phải nhớ ơn TQ tương tự cũng được các
cán bộ tuyên giáo nhắc nhở trong những buổi giảng dậy cho đảng viên các cấp.
Cứ tạm để qua bên khía cạnh phản bội đất nước
và chỉ xét về cách đối xử của lãnh đạo đảng CSVN đối với quân đội, người ta đã đủ
kinh ngạc về những kẻ cho đập phá cả mồ mả và đang xóa tên những chiến sĩ đã hy
sinh khỏi sử sách, lại nhất định bắt hiến pháp mới phải tiếp tục ghi rõ "quân
đội phải tuyệt đối trung thành với đảng CSVN"!

RSS Feed
Facebook
Twitter
1 comments:
Bai viet cua Le Vinh da tong ket so bo ve cuoc chien bien gioi Viet-Trung 1979. Dzu co bat cu chinh kien khac biet nao di nua, chung ta la nguoi Viet-nam, phai kinh can nghieng minh truoc nhung hi sinh dung cam cua cac chien si trong cuoc chien bien gioi Viet-Trung. Cac anh chien si da vinh vien di vao long dat me Viet-Nam, ngay hom nay CSVN voi "le the nguyen 4 tot va 16 chu vang voi quan thay Bac-kinh", da co tinh ruong bo cac anh . Nhung nam mo cua cac anh chien si quan doi nhan dan Viet-nam, da bi DCS-Vn chu truong "QUEN LANG". Ngay mai day khi xuan ve, voi su thang the cua phong trao DAN CHU VIET-NAM, cac anh se duoc the he tre Viet-nam "den on tra nghia".Chac chan se co nhung ca khuc bat hu, ngoi ca guong hi sinh cua cac anh chien si trong chien tranh bien gioi Viet-Trung. Con hom nay, de tuong niem cac anh, xin moi nguoi cung tam thoi thuong thuc ca khuc "Nguoi tinh khong chan dzung & nhung nguoi khong chet" duoc trinh bay boi ca si Nguyen hong Nhung & Thien Kim cua trung tam ASIA-Truc Ho!
Đăng nhận xét