Nghị định 72 ra đời hơn một tuần nay, và đã trở thành “nổi
tiếng”, thậm chí là một “cơn sốt” không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả ngoài nước.
Trong nghị định này, điểm được tập trung phân tích, bình luận nhiều nhất là Điều
20, có nội dung như sau:
Điều 20: Phân loại trang thông tin điện tử
Trang thông tin điện tử được phân loại như sau:
1. Báo điện tử dưới hình thức trang thông tin điện tử
2. Trang thông tin điện tử tổng hợp là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin tổng hợp trên cơ sở trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin chính thức và ghi rõ tên tác giả, hoặc tên cơ quan của nguồn tin chính thức, thời gian đã đăng, phát thông tin
đó.
3. Trang thông tin điện tử nội bộ là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, sản phẩm, dịch vụ, ngành nghề và thông tin khác phục vụ cho hoạt động của chính cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó và không cung cấp thông tin tổng hợp.
4. Trang thông tin điện tử cá nhân là trang thông tin do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin của chính cá nhân đó, không đại diện cho tổ chức hoặc cá nhân khác và không cung cấp thông tin tổng hợp.
5. Trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin, , phát thanh, truyền hình, thương mại,, tài chính, ngân hàng, văn hóa, y tế, giáo dục và các lĩnh vực chuyên ngành khác và không cung cấp thông tin tổng hợp.
(Trong đó, theo điểm 19, Điều 3: Thông tin tổng hợp là thông tin được tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin, nhiều loại hình thông tin về một hoặc nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Còn theo điểm 21, Điều 3: Trang thông tin điện tử (website) là hệ thống thông tin dùng để thiết lập một hoặc nhiều trang thông tin được trình bày dưới dạng ký hiệu, số, chữ viết, hình ảnh, âm thanh và các dạng thông tin khác phục vụ cho việc cung cấp và sử dụng thông tin trên Internet).
Sở dĩ trích dẫn một cách dài dòng như trên là để lát nữa ta đối chiếu cho nó dễ.
Trước hết cần xác định rõ về nguyên tắc phân loại: các trường hợp không được chồng lấn lên nhau, và các trường hợp phải bao gồm hết tất cả các khả năng có thể xảy ra.
Nếu đọc kỹ các nội dung trên, ta có thể nhận thấy sự phân loại các trang thông tin điện tử như trên là không rõ ràng về tiêu chí phân loại. Đã có sự nhập nhằng giữa hai tiêu chí: đối tượng thiết lập trang thông tin điện tử và việc có cung cấp thông tin tổng hợp hay không.
Để làm rõ vấn đề, ta tạm gọi đối tượng thiết lập trang thông tin điện tử gồm cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp là đối tượng loại I, còn cá nhân là đối tượng loại II; trang thông tin điện tử (TTĐT) cung cấp thông tin tổng hợp là trang loại A, còn trang TTĐT không cung cấp thông tin tổng hợp là trang loại B.
Thế thì sự phân loại các trang TTĐT một cách đầy đủ, đồng thời tuân theo cả hai tiêu chí, phải bao gồm 4 loại sau đây:
1- Trang TTĐT loại I-A: do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thiết lập, có cung cấp thông tin tổng hợp.
2- Trang TTĐT loại I-B: do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thiết lập, không cung cấp thông tin tổng hợp.
3- Trang TTĐT loại II-A: do cá nhân thiết lập, có cung cấp thông tin tổng hợp.
4- Trang TTĐT loại II-B: do cá nhân thiết lập, không cung cấp thông tin tổng hợp.
Rõ ràng, ngoại trừ loại báo điện tử thì sự phân loại các trang TTĐT trong điều 20 của Nghị định 72 mới chỉ đề cập đến 3 loại 1, 2 và 4. Trang TTĐT chuyên ngành và trang TTĐT nội bộ chẳng qua đều thuộc vào loại 2, tức I-B.
Đương nhiên, sự phân loại nói trên thiếu hẳn đi loại 3, nghĩa là thiếu loại trang TTĐT do cá nhân thiết lập và có cung cấp thông tin tổng hợp.
Cả thảy có 4 trường hợp thì lại thiếu mất một trường hợp! Rõ ràng đây là một “kẽ hở” quá to, to ghê gớm khi ban hành văn bản. Nói cách khác, phân loại như thế là hoàn toàn không đạt yêu cầu !
Ta sẽ không đi sâu để lý giải về cái “sự thiếu vắng” này.
Chỉ cần biết rằng trên thế giới, các nhân vật nổi tiếng thông thường đều có những trang thông tin điện tử của riêng mình. Và nhiều trang trong số đó có “cung cấp thông tin tổng hợp”. Chẳng hạn 2 trường hợp sau của Oprah Winfrey và Christiane Amanpour.
Oprah Winfrey là người dẫn chương trình, diễn viên, nhà sản xuất lừng danh của Mỹ. Bà được coi là người Mỹ gốc Phi giàu nhất thế giới của thế kỳ 20, là nhà từ thiện da đen lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ, và bà đã từng là một trong những người phụ nữ quyền lực nhất thế giới. Trang TTĐT của bà có địa chỉ oprah.com, đề cập đến đủ thứ chuyện, từ sức khỏe, thời trang, ẩm thực đến chính trị... Chỉ riêng blog của Oprah đã có tới 74 đề tài.
Christiane Amanpour là nhà báo hàng đầu của Mỹ, hiện đang là Trưởng ban quốc tế của kênh CNN. Trang blog của Amanpour bao gồm rất nhiều thông tin về chính trị, xã hội của bà và đồng nghiệp đối với rất nhiều quốc gia ở chấu Á, châu Phi.
Hẳn nhiên, các trang cá nhân của Oprah, Amanpour đều “cung cấp thông tin tổng hợp”.
Trang blog của
Christiane Amanpour
Nếu theo tinh
thần Nghị định 72, thì sẽ chẳng biết xếp những trang TTĐT của Oprah, Amanpour
và vô vàn những trang TTĐT khác trên thế giới vào loại nào.
Riêng ở Việt Nam, có một thực tế là đang tồn tại rất nhiều trang TTĐT do cá nhân thiết lập và có cung cấp thông tin tổng hợp. Những trang như thế sẽ thuộc lại nào trong sự phân loại của Nghị định 72, và tên gọi của chúng là gì?
Sự thiếu vắng một trong bốn loại trang TTĐT trong một bản nghị định của nhà nước không thể thay thế cho một sự ngăn cấm rằng loại đó không được phép xuất hiện.
Thiết nghĩ, chừng nào nhà chức trách chưa ban hành lệnh cấm một cách rõ ràng, cụ thể đối với những trang TTĐT thuộc lại II-A nói trên, thì chúng vẫn được quyền tồn tại. Bởi lẽ ai cũng hiểu rằng: người dân được làm những điều mà luật pháp không cấm.
Không rõ một kẽ hở quá to như vậy sẽ được các nhà soạn thảo bịt lấp lại như thế nào đây?
Theo blog Tâm Sự Y Giáo
Lời bình của Ba sàm:
Xin bình tiếp về Nghị định 72, với những lỗ hổng, mù mờ và bước thụt lùi, ít nhất là trong kỹ thuật soạn thảo văn bản luật, so với NĐ97 vốn đã như bị chìm nghỉm suốt 5 năm qua.
.
+ Trong cả Điều 1 và Điều 2 của NĐ72 về Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng đều không nêu rõ ràng về các hoạt động và đối tượng là “tại Việt Nam” như NĐ97 từ 5 năm trước. Sự khác thường này còn liên quan tới Điều 22 ”xuyên biên giới” mà sáng qua đã bình luận, dễ làm ta nghĩ đến “tham vọng” của cơ quan quản lý dường như muốn quản cả hoạt động và đối tượng “cung cấp thông tin công cộng” từ ngoài lãnh thổ VN khi “có người sử dụng/ truy cập tại VN”.
.
“Tham vọng” trên càng rõ hơn khi trong Điều 2 NĐ72 này không có đoạn quan trọng như NĐ97, là “trong trường hợp các Điều ước quốc tế liên quan tới Internet mà Việt Nam ký kết và gia nhập có quy định khác với Nghị định này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế”.
.
Có điều, các tác giả của NĐ72 hình như đã quên rằng ngay trong những lời mở đầu bản NĐ, họ đã viết rằng: “… Căn cứ Luật công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006”. Họ “quên” vì ngay Điều 2 của Luật Công nghệ thông tin đã “khoanh” Đối tượng áp dụng chỉ là “tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tại Việt Nam”. Như vậy cái sự “quên” đó có thể được gọi là vi phạm “luật mẹ” mà NĐ72 căn cứ vào, là Luật công nghệ thông tin hay không?
.
Chưa hết, “luật mẹ” đó còn có cả quy định mà NĐ72 đã như lờ đi là “Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”. (Điều 3. Áp dụng Luật công nghệ thông tin).
.
+ Và … vẫn còn nữa “tham vọng”, với dấu hiệu không những muốn qua mặt “luật mẹ” mà còn tự mâu thuẫn với chính mình, trong NĐ72. Trong Điều 20. Phân loại trang thông tin điện tử, có đoạn “4. Trang thông tin điện tử cá nhân là trang thông tin điện tử do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin … “. Ở điều này, có lẽ nhiều người đọc, nhiều báo, và cuối cùng là cả các quan chức Bộ 4T qua các cuộc phỏng vấn đã tự suy diễn rằng nó bao gồm cả các blog, các trang dưới dạng “mini blog” trên Facebook và các mạng xã hội khác. Thế nhưng, họ đã “quên” rằng trong Luật công nghệ thông tin, “trang thông tin điện tử” đã được “khoanh” rất rõ là chỉ những website, tại Điều 4. Giải thích từ ngữ, mục 17, mà hoàn toàn không nhắc tới “blog” hay các trang được lập trên mạng xã hội. Thêm nữa, ngay trong chính NĐ72, trong Điều 3. Giải thích từ ngữ, mục 21 cũng ghi rõ “trang thông tin điện tử” là các website, có nghĩa không bao gồm các dạng blog.
.
Còn nhiều nữa những điều cần được mổ xẻ, đến độ không khéo số phận của NĐ72 này sẽ được quyết định nhanh, chứ không phải đợi tới khi có thông tư hướng dẫn như người anh số 97 của nó. Có điều, không rõ là Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp có dám “thổi còi”, để bổ sung NĐ này vào danh sách dài bất tận lẫy lừng thế giới, chưa từng có trong lịch sử VN, với 4.178 văn bản ít nhiều vi phạm luật, được đánh giá bằng ngôn từ khéo léo rằng “chưa đảm bảo tính hợp pháp”, chỉ tính riêng từ đầu 2013 đến nay?



RSS Feed
Facebook
Twitter
0 comments:
Đăng nhận xét