Phạm Đình Trọng
![]() |
| Chỉ biết còn đảng còn mình... |
Lời thưa,
Khi bắt đầu
viết, bài này có tựa Đảng Cộng Sản Việt Nam Với Lợi Ích Dân Tộc Việt Nam. Mới
gõ phím được hơn trang, người viết được đọc bài Uẩn Khúc Trong Điều 4 Hiến
Pháp, thấy giáo sư Hoàng Xuân Phú đã soi rọi rất tinh tế, chính xác xảo thuật
ngôn từ mà những người soạn thảo HP (Hiến pháp) đã sử dụng giúp ĐCSVN (đảng Cộng
sản Việt Nam) không bị ràng buộc vào bất kì điều nào của HP để ĐCSVN điềm nhiên
đứng ngoài và đứng trên HP.
Bài viết
của tôi, tập trung chỉ ra điều 4 HP ghi: ĐCSVN ... đại biểu trung
thành lợi ích của cả dân tộc Việt Nam là hoàn toàn không đúng sự thật. Trong lịch
sử hoạt động, ĐCSVN luôn luôn thí bỏ lợi ích dân tộc thiết thực để theo đuổi lợi
ích giai cấp hư vô của đảng.
Bài viết
của giáo sư Hoàng Xuân Phú chỉ ra sự khuất tất trong xảo thuật ngôn từ của điều
4 và trong toàn HP. Bài viết của tôi chỉ ra sự thiếu trung thực của điều 4 HP.
Hai bài là hai vế đối về sự bất minh của điều 4 HP. Vì thế tôi thấy cần thay đổi
tựa bài để là một vế song hành về ý tứ với bài của giáo sư Hoàng Xuân Phú.
Điều 4 Dự thảo
Hiến pháp 2013 viết: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công
nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam,
đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả
dân tộc Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Viết gọn lại
là: Đảng Cộng sản Việt Nam, đại biểu trung
thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt
Nam, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Một đảng
chính trị của chính trường Việt Nam mà coi thường và khinh bỉ Nhân Dân Việt Nam
đến mức nghiễm nhiên giành quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, không cần có lá
phiếu của người Dân, không cần biết người Dân Việt Nam có chấp thuận sự lãnh đạo
đó hay không, không đếm xỉa đến quyền lợi hiển nhiên, sơ đẳng, bình thường và
thiết thực của người Dân là quyền Công Dân, quyền bầu cử chọn ra người lãnh đạo
Nhà nước và xã hội. Đối xử với Dân kẻ cả, quyền uy và tệ bạc như vậy mà lại bảo
rằng đảng Cộng sản Việt Nam trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam thì đúng là viết lấy được, nói lấy
được, một lối nói, một cách làm của quyền uy độc tài, quen thói áp đặt!
Thực tế đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã nhiều lần chứng minh rằng đảng
không những không vì lợi ích dân tộc Việt Nam mà đảng còn hi sinh lợi ích dân tộc
Việt Nam cho lợi ích của đảng, cho những mục tiêu viển vông, siêu thực của đảng,
cho cuộc cách mạng vô sản thế giới hão huyền, chỉ đẩy Dân vào chiến tranh hận
thù, chỉ lấy Dân làm vật thí nghiệm, vật hi sinh cho chủ nghĩa xã hội hư vô!
1. Đưa
dân tộc Việt nam vào con đường máu lửa. Dân tộc Việt Nam đã phải trả giá máu
quá đắt cho sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam
Khi đất nước
Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược là khi thế giới đã bước vào thời công nghiệp
hóa. Những nước đi đầu trong công nghiệp hóa trở nên giàu mạnh, văn minh liền
mang sức mạnh công nghiệp đi xâm lược các nước còn đang tăm tối trong nền sản
xuất nông nghiệp cổ lỗ. Công nghiệp hóa là thời của toàn cầu. Mọi vấn đề của thế
giới, của con người, từ cuộc sống của mỗi con người đến số phận các dân tộc đều
mang tính toàn cầu. Các sĩ phu Việt Nam yêu nước chỉ quanh quẩn trong nước, sử
dụng lực lượng tại chỗ, lòng yêu nước chỉ được trang bị bằng gậy gộc, giáo mác
đứng lên khởi nghĩa chống Pháp đều đơn độc, lẻ loi và cuộc khởi nghĩa nhanh
chóng bị dìm trong máu. Những người Việt Nam yêu nước từ thế hệ Phan Châu
Trinh, Phan Bội Châu đều đã biết hướng ra thế giới tìm kiếm, học hỏi thế giới,
nắm bắt xu thế thời đại, khai thác sức mạnh thời đại vào sự nghiệp cứu nước.
Đi ra thế giới
tìm con đường giải phóng dân tộc Việt Nam, với trái tim yêu nước nồng nàn và tầm
nhìn thấu đáo, sâu xa, Phan Châu Trinh thấy trước hết phải “khai dân trí, chấn
dân khí, hậu dân sinh”: Thức tỉnh ý thức tự lập, tự cường, chấn hưng đất nước.
Lập phường hội phát triển công thương, phát huy nghề tinh. Tiếp nhận công nghệ
mới, bước theo các nước công nghiệp, công nghiệp hóa, tư bản hóa xã hội Việt
Nam. Dân giàu nước mới mạnh, số đông người Dân giàu có về đời sống văn hóa và đời
sống kinh tế, từ đó mới có ý thức về quyền con người, quyền tự quyết của các
dân tộc, có tư thế bình đẳng và có lực lượng cần thiết đấu tranh chính trị và
chỉ đấu tranh chính trị giành độc lập dân tộc.
Con đường
Phan Châu Trinh đã chọn cho dân tộc Việt Nam cũng là con đường Mahatma Gandhi
đã chọn cho dân tộc Ấn Độ và Ấn Độ đã giành được độc lập dân tộc không phải trải
qua cuộc chiến tranh đẫm máu với đế quốc Anh. Phan Châu Trinh mất sớm, con đường
cứu nước đúng đắn Phan Châu Trinh vừa khởi xướng, đành bỏ dở! Sự nghiệp giải
phóng dân tộc Việt Nam thôi đành phó thác cho những người Cộng sản. Và dân tộc
Việt Nam phải trải qua con đường đấu tranh bạo lực dằng dặc máu lửa và chứa chất
hận thù đến tận hôm nay vẫn chưa thôi bạo lực, chưa trút bỏ hận thù!
Đi ra thế giới,
những người Việt Nam yêu nước lớp kế cận Phan Châu Trinh nhưng không có được tầm
văn hóa cao và sự chín chắn chính trị của Phan Châu Trinh nên họ đã vội vồ vập
vơ lấy học thuyết hận thù giai cấp, đấu tranh giai cấp đẫm máu của chủ nghĩa Cộng
sản và coi đó là phương tiện tốt nhất cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt
Nam. Đọc luận cương của V. Lê nin về cách mạng bạo lực và hận thù của vô sản thế
giới, Hồ Chí Minh, người Cộng sản Việt Nam đầu tiên, sung sướng đến ứa nước mắt
reo lên: Đây rồi! Đây chính là cái mà chúng ta cần!
Từ đây, dân
tộc Việt Nam chỉ có thể tồn tại bằng yêu thương đùm bọc “lá lành đùm lá rách” bị
cuốn vào thời bạo lực và hận thù giai cấp, “lá rách” đấu tố, thù hận “lá lành”,
loại bỏ “lá lành”, dân tộc bị chia rẽ sâu sắc, bị suy yếu rệu rã và bị lệ thuộc
chặt chẽ vào nước lớn cùng ý thức hệ!
Phan Châu
Trinh làm cách mạng giải phóng dân tộc bằng những cải cách nâng tầm đất nước,
nâng tầm dân tộc, đưa đất nước đi vào con đường công nghiệp hóa làm cho Dân giầu
nước mạnh và cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc phải dựa vào những người Dân
giàu có trí tuệ, giàu có của cải đó. Nhưng cách mạng vô sản thì ngược lại. Coi
làm giàu là bóc lột, là bất công xã hội, đứng về phía những người nghèo khổ bị
bóc lột, cách mạng vô sản đưa giai cấp công nông, giai cấp nghèo khổ, không có
của cải, không có tri thức, chỉ có xiềng xích và hai bàn tay trắng lên lãnh đạo
cách mạng, coi người giàu tri thức và giàu của cải đều là kẻ thù của cách mạng,
là đối tượng cần chuyên chính, loại bỏ! Đó là một thảm họa lớn kéo dài mà những
người Cộng sản Việt Nam đã mang lại cho dân tộc Việt Nam và biến động bi thảm
tháng chín năm 1930, những người Cộng sản phát động Dân nghèo Nghệ Tĩnh nổi dậy
chém giết trí, phú, địa, hào, “Trí, Phú, Địa, Hào đào tận gốc, trốc tận rễ” là
một cảnh báo nghiêm khắc.
Sau gần một
thế kỉ bị thực dân Pháp đô hộ, gần một thế kỉ nước mất, thân nô lệ, những tâm hồn
Việt Nam chân chính đang khao khát cháy bỏng giải phóng dân tộc. Những người Cộng
sản Việt Nam giương ngọn cờ giải phóng dân tộc, đã khai thác, tập hợp được sức
mạnh dân tộc Việt Nam làm nên chiến thắng trong cuộc kháng chiến đánh đuổi những
đội quân xâm lược hùng mạnh của thời đại.
Chiến thắng
những đội quân xâm lược giành độc lập là chiến thắng của văn hóa và truyền thống
Việt Nam, chiến thắng của khí phách, trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, hoàn toàn
không phải là chiến thắng của chủ nghĩa Mác Lê nin, của lí tưởng Cộng sản,
không phải là chiến thắng của học thuyết hận thù, đấu tranh giai cấp.
Giương ngọn
cờ giải phóng dân tộc, những người Cộng sản Việt Nam đã thu hút được một số
quan lại, trí thức, tư sản, chủ đất . . . , những người thuộc giai
cấp tư sản với lòng yêu nước hồn nhiên đã tập hợp trong đội ngũ những người
kháng chiến giành độc lập. Nhưng lí tưởng Cộng sản, học thuyết đấu tranh bạo lực,
hận thù giai cấp đã đẩy số đông người Việt Nam yêu nước tỉnh táo, sáng suốt,
không chấp nhận chủ nghĩa Cộng sản sang phía kẻ thù không đội trời chung. Ngay
cả với những trí thức, tư sản, những trí tuệ và tài năng ở tầng lớp trên đi với
những người Cộng sản, có đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến giành độc lập
dân tộc cũng bị những người Cộng sản ngộ độc học thuyết đấu tranh giai cấp, đố
kị, khinh rẻ, bạc đãi, đày ải điêu đứng. Những thân phận ngậm ngùi, ê chề, đau
khổ như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, . . . vì sự đố kị, bạc
đãi, đày ải đó không phải là cá biệt. Chủ nghĩa Cộng sản với học thuyết bạo lực,
hận thù, đấu tranh giai cấp đã gây quá nhiều đau khổ cho nhiều thế hệ, cho hàng
triệu người Việt Nam yêu nước thương nòi, gây chia rẽ, li tán sâu sắc cả dân tộc
Việt Nam.
![]() |
| Cộng sản đấu tố...con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng |
Chiến thắng
bằng bạo lực và hận thù của những người Cộng sản đã buộc dân tộc Việt Nam phải
trả bằng giá máu và giá đạo lí quá đắt:
Giá phải trả
bằng máu của cả chục triệu người, gần một phần ba dân số Việt Nam phơi thây
ngoài mặt trận, chết gục trong đấu tố, chết thảm trên pháp trường, chết mòn
trong tù ngục, chết mất xác trong thủ tiêu âm thầm! Xã nào, huyện nào tỉnh nào
cũng có những nghĩa trang liệt sĩ mênh mông, trắng xóa những nấm mồ người chết
trẻ, tuổi mười tám, đôi mươi. Rồi còn những người chết trong thù hận không nấm
mồ, không dấu tích cũng nhiều không kém, tính không xuể!
Hãy đến
nghĩa trang liệt sĩ một xã như xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre,
hãy đến nghĩa trang liệt sĩ Đường 9, nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn để thấy bằng
hình ảnh, bằng chứng cứ món nợ máu đảng Cộng sản Việt Nam đã vay của dân tộc Việt
Nam lớn như thế nào, để thấy giá máu dân tộc Việt Nam đã phải trả lớn như thế
nào khi đi trên con đường đấu tranh giành độc lập bằng bạo lực do những người Cộng
sản lãnh đạo! Càng đau xót hơn khi người Dân phải trả giá máu đắt như vậy nhưng
đất nước vẫn chưa có nền độc lập thật sự, đất đai biển trời không còn được
nguyên vẹn và người Dân vẫn chưa thật sự có tự do, chưa được thực sự làm Người,
vẫn mang ách nô lệ của một Nhà nước độc tài đảng trị!
Giá của cuộc
nội chiến tương tàn chia rẽ sâu sắc một dân tộc vốn chỉ có thể tồn tại bằng
đoàn kết dân tộc, bằng yêu thương đùm bọc, lá lành đùm lá rách! Giá của đất nước
gấm vóc bị 30 năm chiến tranh hiện đại, chiến tranh điện tử, chiến tranh siêu
âm, chiến tranh bấm nút, chiến tranh hủy diệt tàn phá!
Giá của văn
hóa dân tộc và đạo lí Việt Nam bị hủy hoại, bị vất bỏ! Một dân tộc tồn tại bằng
yêu thương trở thành dân tộc ứng xử với nhau bằng bạo lực và hận thù! Nhà nước
tùy tiện sử dụng bạo lực với người Dân đã trở thành tấm gương cho xã hội để xã
hội Việt Nam trở thành xã hội bạo lực, bất an, man rợ. Nhà nước cướp đất của
Dân bằng bạo lực cưỡng chế. Nhà nước trả lời những chính kiến khác biệt của người
Dân bằng bạo lực công an, tòa án, nhà tù. Bỏ tù người Dân có chính kiến khác biệt
bằng những tội danh hình sự áp đặt, giả tạo. Công an ngang nhiên đánh Dân, bắn
Dân trên đường phố. Công an ngang nhiên chà đạp lên pháp luật, tùy tiện bắt bớ
Dân. Công an đánh chết Dân trong nhà tạm giam, trong trụ sở công an diễn ra
hàng ngày ở khắp nơi trên cả nước. Nhà nước Cộng sản dùng bạo lực gây hận thù rộng
khắp đất nước và gieo rắc hận thù sâu sắc trong lòng dân tộc Việt Nam.
Tất cả sử
sách của đảng Cộng sản Việt Nam, của Nhà nước Cộng sản Việt Nam đều thú nhận rằng
cuộc cách mạng tháng tám năm 1945 là cuộc cướp chính quyền của những người Cộng
sản. Cướp là bất chính, là bạo lực. Một Nhà nước ra đời trong bạo lực, tồn tại
bằng bạo lực không thể là Nhà nước lương thiện, tử tế! Nhà nước không lương thiện,
tử tế tất yếu tạo ra xã hội không lương thiện, tử tế. Xã hội Việt Nam hôm nay
là xã hội như vậy, xã hội lừa đảo, bạo lực và hận thù! Bạo lực và hận thù biến
con người thành con thú! Bạo lực và hận thù man rợ như xã hội thời hồng hoang
chưa có luật pháp!
2. Vì lợi
ích giai cấp hư vô từ bỏ lợi ích dân tộc thiết thực. Đẩy dân tộc Việt Nam vào
cuộc nội chiến tương tàn
Năm 1954, phần
lớn lực lượng của đội quân xâm lược Pháp ở Đông Dương đã bị tiêu diệt ở Điện
Biên Phủ. Cả hệ thống phòng thủ của Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ đã bị vô hiệu, bị
nhấn chìm trong biển lửa chiến tranh du kích. Binh đoàn chủ lực mạnh của Pháp ở
miền Trung bị đánh tan tác ở đèo An Khê. Cả hệ thống đồn bốt của Pháp ở miền
Đông và miền Tây Nam Bộ đã tự tan rã từng mảng lớn. Hai phần ba lãnh thổ Việt
Nam đã được giải phóng khỏi đội quân xâm lược Pháp. Quân xâm lược chỉ còn giữ
được những thành phố, thị xã ở đồng bằng nhưng phần lớn người Dân trong những
thành phố, thị xã đó cũng là những người Việt Nam yêu nước, chống Pháp. Trong
khi đội quân xâm lược Pháp lực đã kiệt, thế đã tàn thì lực lượng kháng chiến
giành độc lập đã lớn mạnh, đang bừng bừng xốc tới, chỉ dấn thêm một bước là cả
nước sạch bóng giặc ngoại xâm.
Nhưng những
người Cộng sản đặt giá trị giai cấp lên trên giá trị dân tộc thì giải phóng dân
tộc không phải là mục đích duy nhất và cao nhất của họ. Với ý thức hệ giai cấp,
những người Cộng sản Việt Nam coi giải phóng dân tộc không phải là mục đích mà
chỉ là phương tiện để họ làm cách mạng vô sản thế giới, coi cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc Việt Nam chỉ là một bộ phận của cuộc cách mạng vô sản thế giới,
coi đất nước, dân tộc chỉ là “tiểu cục” trong cái “đại cục” cách mạng vô sản thế
giới.
Ngạo ngược
và hợm hĩnh đưa lá cờ búa liềm của chỉ một giai cấp, giai cấp công nông bần
cùng, lá cờ vay mượn từ xứ người và chung chạ với xứ người lên ngang với lá cờ
Tổ quốc Việt Nam, những người Cộng sản Việt Nam thẳng thừng tuyên bố rằng với họ,
Tổ quốc Việt Nam không phải là trên hết! Vì lá cờ vay mượn và chung chạ đó, những
người Cộng sản đã chuyển hướng cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thành cuộc
chiến tranh ý thức hệ giai cấp. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam
đang băng băng đi đến thắng lợi hoàn toàn bị buộc phải dừng lại để làm nhiệm vụ
giai cấp. Đặt trên đôi vai dân tộc Việt Nam nghèo khổ, gày guộc cuộc chiến
tranh ý thức hệ khốc liệt của cách mạng vô sản thế giới, những người Cộng sản lạnh
lùng chia đôi đất nước Việt Nam yêu thương thành hai trận địa, hai tiền đồn
chĩa súng vào nhau, chia đôi dân tộc Việt Nam yêu nước thương nòi thành hai đội
quân xung kích của hai phe ý thức hệ quyết liệt lăn xả vào nhau chém giết, tiêu
diệt nhau, đẩy dân tộc Việt Nam vào cuộc nội chiến Bắc – Nam đẫm máu suốt hai
mươi năm trời!
Trong khi những
người Cộng sản Việt Nam nông cạn và không đủ tầm văn hóa để ý thức về giá trị
dân tộc nên đã vì lá cờ búa liềm vay mượn và chung chạ của giai cấp vô sản thế
giới mà từ bỏ lợi ích dân tộc để làm tên lính xung kích của cuộc cách mạng vô sản
thế giới, thì những người Cộng sản đàn anh Tàu Cộng lại núp dưới lá cờ búa liềm
vay mượn và chung chạ đó để vụ lợi, để mưu lợi ích cho Tàu Cộng. Họ mượn máu của
dân tộc Việt Nam làm vốn liếng chính trị cho Tàu Cộng, để Nhà nước công nông
Tàu Cộng từ bóng tối nội chiến, nghèo đói, lạc hậu bước ra ánh sáng thế giới.
Ép Việt Nam chấp nhận tham gia hội nghị Geneve năm 1954 chấm dứt cuộc chiến
tranh Đông Dương để Tàu Cộng có cơ hội lần đầu tiên được bước lên vũ đài chính
trị thế giới, giành được vai trò quan trọng trong đời sống chính trị thế giới.
Lấy máu của dân tộc Việt Nam mặc cả với tư bản thế giới kiếm chác lợi ích cho
Tàu Cộng, những người Cộng sản Tàu còn lấy đấu tranh giai cấp để chia rẽ dân tộc
Việt Nam, đánh tan rã khối đoàn kết dân tộc, lấy chiến tranh ý thức hệ khoét vết
thương nhức nhối trong lòng dân tộc Việt Nam, làm suy yếu dân tộc Việt Nam, buộc
Việt Nam mãi mãi phụ thuộc vào Tàu Cộng, mãi mãi là chư hầu của Tàu Cộng để Tàu
Cộng thực hiện giấc mộng thôn tính, bành trướng mà tổ tiên họ ôm ấp từ ngàn đời
vẫn chưa thực hiện được.
Nông cạn,
không xứng tầm lịch sử, không mang hồn dân tộc, không đau đáu với lợi ích dân tộc,
những người Cộng sản Việt Nam đã không thấy được mưu đồ Đại Hán Tàu Cộng, răm rắp
chấp nhận sự áp đặt của Tàu Cộng, cúi đầu kí hiệp định Geneve năm 1954 chấp nhận
ngừng cuộc chiến giải phóng hoàn toàn đất nước, chấp nhận chia đôi đất nước Việt
Nam yêu thương, chia đôi dân tộc Việt Nam ruột thịt thành hai nửa đối kháng một
mất một còn với nhau!
![]() |
| Bà bán hàng rong trên đường phố Saigon những năm gần đây. AFP |
Ngăn chặn cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn
toàn, chia cắt đất nước, chia cắt dân tộc Việt Nam thành hai nửa thù địch nhau,
Hiệp định Geneve năm 1954 là thất bại ê chề, đau đớn mà những người Cộng sản Việt
Nam đã mang lại cho dân tộc Việt Nam. Từ đây dân tộc Việt Nam có lịch sử hào
hùng bốn ngàn năm kiêu hãnh là dân tộc độc lập tự chủ trở thành dân tộc tội
nghiệp bị cột chặt vào cuộc chiến tranh ý thức hệ vô nghĩa của thế giới Cộng sản,
phải đổ máu cho cuộc chiến tranh ý thức hệ vay mượn của cách mạng vô sản thế giới.
Từ đây, độc lập dân tộc đã thực sự bị mất!
Ngày 20
tháng bảy năm 1954 ở Geneve, Thụy Sĩ, những người Cộng sản Việt Nam kí kết Hiệp
đinh đình chiến, chia cắt đất nước thì ngay hôm sau, ngày 21 tháng bảy, ở những
vùng đất Việt Nam ngoài vòng kiểm soát của những người Cộng sản, người dân đồng
loạt treo cờ rủ để tang cho nền độc lập dân tộc bị giết chết, để tang đất nước
chia cắt thành hai quốc gia đối kháng, để tang dân tộc Việt Nam bị chia cắt
thành hai thế lực thù địch nhau, để tang cho nhiều gia đình bị chia đôi thành
hai trận tuyến bắn giết nhau, để tang cuộc nội chiến không tránh khỏi, để tang
cho những thế hệ tuổi trẻ Việt Nam bị thiêu hủy trong ngọn lửa chiến tranh, để
tang sớm cho hàng triệu người Việt thiệt mạng trong cuộc nội chiến ý thức hệ vô
nghĩa đó!
Đưa giá trị
giai cấp hư vô lên trên giá trị dân tộc thiết thực, những người Cộng sản Việt
Nam đã đưa dân tộc Việt Nam đi từ cuộc chiến tranh khốc liệt này đến cuộc chiến
tranh khốc liệt khác. Cuộc nội chiến Bắc – Nam 20 năm. Cuộc chiến tranh
Campuchia hơn 10 năm. Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 10 năm. Đi từ cuộc đấu
tố thanh trừng tàn bạo này đến cuộc đấu tố thanh trừng tàn bạo khác. Những cuộc
đấu tố thanh trừng trong cải cách ruộng đất, trong cải tạo tư sản, trong vụ
Nhân văn Giai phẩm, trong vụ xét lại chống đảng đã bắn giết, đày ải, loại bỏ
hàng triệu người Việt Nam tinh hoa, ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam, những người
đã làm nên niềm tự hào Việt Nam thời xã hội Việt Nam giã từ nền sản xuất nông
nghiệp cơ bắp tăm tối đi tới xã hội công nghiệp ánh sáng cùng loài người văn
minh.
Những người
Việt Nam yêu nước thương nòi, những người Việt Nam chân chính hôm nay nói tiếng
nói của lịch sử, của đạo lí, của văn hóa Việt Nam đòi vất bỏ gông cùm chủ nghĩa
Mác Lê nin sai lầm tội lỗi, vất bỏ gông cùm ý thức hệ giai cấp phản dân tộc để
thoát khỏi thân phận nô lệ Bắc thuộc đều bị Nhà nước Cộng sản coi là thế lực
thù địch, bị bộ máy chuyên chính của Nhà nước Cộng sản giám sát, theo dõi như
những người tù ngay tại nhà mình. Nhiều người Việt Nam chân chính bất hạnh hơn,
người trước người sau đang lần lượt vào những nhà tù khắc nghiệt, những địa ngục
trần gian được Nhà nước Cộng sản xây dựng, mở rộng trên khắp đất nước Việt Nam.
Dùng ngục tù phân loại người Dân. Những người Dân khảng khái, trung thực đều bị
tống vào ngục tù để xã hội Việt Nam chỉ còn bầy cừu cam chịu dưới sự chăn dắt của
bạo lực Cộng sản, để dân tộc Việt Nam chỉ còn là sắc tộc Việt thiểu số của Đại
Hán, chỉ còn là những thân phận nô lệ của Nhà nước độc tài đảng trị.
3. Kiên
trì chủ nghĩa Mác Lê Nin, kiên trì đấu tranh hận thù giai cấp, dù đất nước thống
nhất đã bao lâu thì dân tộc Việt Nam vẫn mãi li tán
Khi những
người Cộng sản đàn anh Tàu Cộng, Nga Cộng ép những người Cộng sản Việt Nam phải
kí hiệp định Geneve chia đôi đất nước Việt Nam là họ đã chọn dải đất Việt Nam
làm bãi chiến trường của cuộc chiến tranh ý thức hệ và chọn dân tộc Việt Nam
làm vật hi sinh trong cuộc chiến tranh đó để đất nước họ yên ổn xây dựng, phát
triển.
Chính chủ
nghĩa Mác Lê nin đã tạo ra không gian lịch sử, yếu tố xã hội và phát động cuộc
chiến tranh ý thức hệ đẫm máu và vô nghĩa. Xã hội tư bản đưa giới chủ, đưa những
người giàu có của cải, giầu có trí tuệ lên làm chủ Nhà nước và xã hội. Với xã hội
tư bản, Cái Tôi của người Dân được nhìn nhận, cá nhân được khẳng định, quyền
con người được luật pháp bảo đảm. Mỗi người tồn tại trong cuộc đời là một cá
nhân, phải đến xã hội tư bản công nghiệp mới có được điều bình thường mà vĩ đại
đó. Từ bầy đàn đi đến cá nhân, đó là một bước tiến vĩ đại của tiến trình lịch sử
loài người. Cá nhân được giải phóng, những con người khổng lồ xuất hiện đưa xã
hội loài người thực sự bước vào thời ánh sáng văn minh và phát triển huy hoàng.
Xã hội Cộng
sản đưa giai cấp công nông, những người lao động làm thuê, lao động cơ bắp,
không có của cải, không có trí tuệ lên làm chủ Nhà nước và xã hội. Trong xã hội
Cộng sản chỉ những người nắm quyền lực trong đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng sản
mới có Cái Tôi, mới có cá nhân, còn người dân chỉ là đám đông, là bầy đàn,
không có cá nhân. Đó là xã hội mông muội, tối tăm, là một bước thụt lùi thảm hại
của lịch sử, một nỗi đau nhân loại.
Chủ nghĩa
Mác Lê nin giao nhiệm vụ lịch sử cho giai cấp công nhân, những người lao động
cơ bắp làm thuê không của cải, không tri thức phải quyết đào mồ chôn những ông
chủ tư bản giầu có của cải và trí tuệ. Chủ nghĩa Mác Lê nin giao nhiệm vụ lịch
sử cho chế độ Cộng sản kéo lùi lịch sử phát triển loài người về thời tối tăm phải
quyết tiêu diệt chế dộ Tư bản đã đưa xã hội loài người tới ánh sáng văn minh.
Nhiệm vụ lịch sử đó của những người Cộng sản, của giai cấp vô sản thế giới đã tạo
ra chiến tranh ý thức hệ, đẩy nhân dân vào những cuộc đấu tố, thanh trừng, thảm
sát, đẩy loài người vào những cuộc chiến tranh liên miên. Vì thế, về thực chất
cuộc chiến tranh ý thức hệ là cuộc chiến tranh bóng tối mông muội quyết tiêu diệt
ánh sáng văn minh và ánh sáng văn minh quyết đẩy lùi bóng tối mông muội!
Vì là cuộc
chiến tranh ý thức hệ nên nước Mĩ hùng mạnh của thế giới tư bản phải tham chiến
trong cuộc chiến tranh Việt Nam để ngăn chặn bóng tối Cộng sản lan ra thế giới.
Có sức mạnh kinh tế và quân sự không nước nào sánh được nhưng nước Mĩ vẫn phải
chuốc lấy thất bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam vì chiến thắng của cuộc chiến
tranh nào xét cho cùng cũng là chiến thắng của văn hóa, của đạo lí. Những người
Cộng sản Việt Nam đã giấu kín cuộc chiến tranh ý thức hệ dưới danh nghĩa cuộc
kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Người Dân Việt Nam đi vào cuộc chiến tranh ý thức
hệ là những nạn nhân, những vật hi sinh nhưng với tư thế những anh hùng xả thân
chống Mĩ cứu nước và chiến thắng đã thuộc về những người anh hùng đó. Đó là chiến
thắng của văn hóa, của lẽ sống Việt Nam. Đó là chiến thắng của những người mẹ lần
lượt tiễn đến đứa con cuối cùng ra trận và những đứa con ấy đã lần lượt bỏ mình
trên những ngả đường chiến trận để làm nên chiến thắng dâng lên người mẹ nghèo
khổ mà giầu lòng yêu nước thương nòi, dâng lên Mẹ Tổ quốc Việt Nam.
Sau chiến thắng
đó, sau ngày 30 tháng tư năm 1975, cuộc chiến tranh Nam – Bắc núi xương, sông
máu chấm dứt, một thời cơ phát triển, chấn hưng đất nước vô cùng thuận lợi đã mở
ra. Chưa bao giờ Việt Nam đứng trước thời cơ phát triển thuận lợi như lúc đó.
Nhưng với tầm văn hóa thấp kém, không vượt được lên trên các chủ nghĩa, làm chủ
các chủ nghĩa nên chỉ giáo điều, dập khuôn, làm nô lệ của chủ nghĩa Mác Lê nin
lầm lạc, phản dân tộc, những người lãnh đạo Cộng sản Việt Nam không vì lợi ích
dân tộc, vẫn nhìn thế giới và nhìn dân tộc mình bằng con mắt hận thù giai cấp,
vẫn mê muội lấy đấu tranh giai cấp ứng xử với thế giới và lấy đấu tranh giai cấp
chống phá, nô dịch chính dân tộc mình, tù đày chính Nhân Dân mình, những người
lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đã bỏ lỡ thời cơ lịch sử để Việt Nam bước lên
đường phát triển, hòa nhập cùng loài người văn minh.
Không vì
lợi ích dân tộc, đảng Cộng sản Việt Nam vẫn trói mình trong ý thức hệ giai cấp,
làm cho Việt Nam không thể hòa nhập với thế giới, đánh mất tình yêu của thế giới,
đánh mất nguồn lực lớn lao của thế giới dành cho Việt Nam
Dân tộc Việt
Nam bé nhỏ, nghèo khổ phải chịu những đau thương mất mát quá lớn để chiến thắng
một lực lượng quân sự hùng mạnh nhất thế giới. Cả thế giới ngả mũ kính chào Việt
Nam, vui mừng mở vòng tay đón Việt Nam hòa nhập với cuộc sống thanh bình của thế
giới. Cả thế giới động lòng trắc ẩn trước hi sinh mất mát đau thương của Việt
Nam, muốn bù đắp, chia sẻ với Việt Nam, muốn giúp Việt Nam xây dựng lại đất nước.
Cả nước Mĩ thua trận cũng muốn làm lành với Việt Nam bằng việc chủ động đề nghị
bình thường hóa quan hệ hai nước để nước Mĩ có trách nhiệm với Việt Nam sau chiến
tranh.
Nếu đảng Cộng
sản Việt Nam thực sự là đại biểu trung thành lợi ích của cả dân tộc Việt Nam
như họ vẫn xưng xưng tự nhận, thực sự vì lợi ích dân tộc thì họ phải ý thức được
trách nhiệm về nỗi đau mất mát quá lớn mà dân tộc Việt Nam phải nhận khi là
công cụ, là vật hi sinh của cuộc chiến tranh ý thức hệ. Nhận trách nhiệm để thấy
việc phải làm là nhanh chóng thoát ra khỏi thân phận công cụ của ý thức hệ, trở
về với dân tộc, vì lợi ích dân tộc mà bình thường hóa quan hệ với Mĩ, mở ra thời
kì mới hòa nhập với thế giới, đón nhận thành tựu khoa học kĩ thuật của thế giới
và quan trọng nhất là khoa học kĩ thuật hiện đại và nguồn vốn đầu tư lớn từ nước
Mĩ để xây dựng cuộc sống mới cho Nhân Dân.
Không bận
tâm đến lợi ích dân tộc, vẫn trói mình trong chủ nghĩa Mác Lê nin chỉ biết có
giai cấp, lạc lõng trong tình cảm vay mượn hận thù giai cấp, đánh tráo chiến thắng
bằng giá máu quá đắt của dân tộc Việt Nam là chiến thắng của chủ nghĩa Mác Lê
nin, lại sẵn thói kiêu ngạo Cộng sản, những người lãnh đạo Cộng sản Việt Nam
vênh váo đưa ra cớ đòi Mĩ bồi thường chiến tranh để từ chối bình thường hóa
quan hệ với nước Mĩ thua trận. Cùng với những sai lầm tệ hại khác, vênh váo
không bình thường hóa quan hệ với Mĩ dẫn đến cuộc cấm vận của Mĩ kéo dài suốt
hai mươi năm. Lệnh cấm vận của Mĩ đã dựng bức tường sừng sững ngăn cách Việt
Nam với thế giới, chặn đứng dòng vốn đầu tư, dòng khoa học kĩ thuật, công nghệ
hiện đại của thế giới chảy vào Việt Nam làm cho đất nước Việt Nam chìm sâu
trong nghèo đói, khủng hoảng, kinh tế kiệt quệ, người Dân khổ cực, thiếu thốn đủ
bề.
Vài tỉ tiền
Mĩ bồi thường chiến tranh ném vào cái túi thủng của Nhà nước tham nhũng nào có
thấm tháp gì so với hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ đô la mà các nước phát triển đầu
tư vào nền kinh tế Việt Nam khi bình thường hóa quan hệ với Mĩ.
Không vì
lợi ích dân tộc, vẫn lấy đấu tranh giai cấp chống phá dân tộc, đánh mất cả nội
lực to lớn, đánh mất cả sức sống mạnh mẽ và sức sáng tạo vô tận của dân tộc Việt
Nam
Năm 1954, những
người Cộng sản nhẫn tâm chia đôi đất nước Việt Nam đã tạo ra hai dòng chảy Nam
– Bắc ngược chiều nhau. Dòng chảy nhỏ bé, ngắn ngủi của gần hai trăm ngàn cán bộ,
bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc và dòng chảy ồ ạt, mạnh mẽ, kéo dài của hai triệu
người Dân miền Bắc di cư vào Nam.
Năm 1975 kết
thúc cuộc chiến tranh Nam Bắc, lại có hai dòng chảy Nam Bắc ngược chiều nhau. Một
dòng chảy của những người thân trong những gia đình bị trận tuyến ý thức hệ
chia cắt hai mươi năm tìm về với nhau. Nhưng chỉ có người từ miền Bắc ào ào đổ
vào miền Nam. Người thắng cuộc hồ hởi tìm đến người mặc cảm thua cuộc. Dòng chảy
Bắc - Nam. Đó là dòng chảy tự nhiên. Nhưng còn có dòng chảy do những người say
máu đấu tranh giai cấp tạo ra, những người chỉ biết có giai cấp, không biết đến
dân tộc, những người cuồng tín, nô lệ của học thuyết đấu tranh giai cấp, dùng bạo
lực giai cấp vô sản quyết tiêu diệt dân tộc Việt Nam đến cùng. Dòng chảy của
hàng trăm ngàn người đã tham gia bộ máy quân sự và bộ máy Nhà nước của chính
quyền Sài Gòn thua cuộc bị dẫn giải ra miền Bắc tống vào các nhà tù được mang
tên là các trại cải tạo. Dòng chảy Nam – Bắc.
Không biết
nhận ra đường về với dân tộc, những người lãnh đạo Cộng sản vẫn lấy giai cấp
vay mượn đánh phá dân tộc ruột thịt của mình. Bài bản đấu tranh giai cấp đã làm
kiệt quệ miền Bắc là cải tạo tư sản lại được áp dụng ở miền Nam làm kiệt quệ cả
miền Nam. Tư sản dân tộc miền Nam đông đảo và giàu có đã tạo ra cả một nền công
nghiệp hiện đại và thương nghiệp phát triển hòa nhập với thị trường thế giới.
Tước đoạt quyền làm chủ của những người biết làm chủ. Giao cơ sở sản xuất kinh
doanh của họ cho những người không biết sản xuất kinh doanh, không có mối quan
hệ giao thương với thế giới đã phá hủy cả một nền công thương nghiệp dân tộc
phát triển, cắt đứt mối quan hệ giao thương với thị trường thế giới. Việt Nam tự
cô lập trong nghèo đói.
Bài bản đấu
tranh giai cấp là duy trì và khoét sâu mãi trận tuyến giai cấp, trận tuyến địch
– ta trong lòng dân tộc Việt Nam. Đưa súng đạn, thuốc nổ và những tay súng AK
vào miền Nam thổi bùng lên ngọn lửa chiến tranh người Việt giết người Việt. Chiến
tranh kết thúc, những họng súng AK lại gom hàng trăm ngàn người trong bộ máy
Nhà nước và bộ máy quân sự miền Nam vào những nhà tù rải rác ở vùng rừng núi khắc
nghiệt miền Bắc. Những người làm nên bộ máy Nhà nước và bộ máy quân sự miền Nam
là lực lượng tinh hoa, ưu tú nhất của xã hội miền Nam và cũng là nguồn lực con
người lớn lao và quí giá của dân tộc Việt Nam. Tù đày họ không những hủy bỏ một
nguồn lực lao động cao cấp mà còn tiếp tục nuôi dưỡng hận thù trong lòng dân tộc,
li tán dân tộc.
Những đòn đấu
tranh giai cấp khốc liệt đó liên tiếp đánh những đòn chí tử vào dân tộc Việt
Nam. Đánh vào nội lực, đánh vào lực lượng sản xuất tạo ra của cải xã hội làm
cho đất nước đã nghèo càng nghèo thêm. Đánh vào lòng tin làm cho người dân thấy
bế tắc, không còn lòng tin vào ngày mai. Đánh vào tình cảm dân tộc, đánh vào
lòng yêu nước làm cho người dân dù nặng lòng với nước cũng không tìm thấy chỗ đứng
trên đất nước thân yêu phải bỏ nước ra đi tạo ra dòng người đổ ra biển vượt
biên kéo dài trong nhiều năm, ồ ạt vào những năm từ 1975 đến 1990 và rải rác đến
tận hôm nay.
Dòng thác
người trên biển đi tìm cái sống trong cái chết đã tạo ra hình ảnh một Việt Nam
đau thương, tủi nhục trước con mắt thế giới và thế giới đã phải tạo ra một từ mới
Boat People - Thuyền Người để gọi những người Việt Nam khốn khổ này. Chạy trốn
đòn đấu tranh giai cấp tàn độc của những người lãnh đạo Cộng sản Việt Nam, hơn
ba triệu người Việt Nam tìm đến vòng tay nhân hậu cưu mang của các dân tộc trên
thế giới, khoét sâu sự li tán trong lòng dân tộc Việt Nam đến nay vẫn chưa thể
hàn gắn. Nửa triệu người vùi xác dưới biển trong cuộc chạy trốn những người
lãnh đạo Cộng sản lấy giai cấp tiêu diệt dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam không
thể trốn trách trách nhiệm về cái chết mất xác của nửa triệu người Việt Nam
này.
Lấy giai cấp
thống trị dân tộc. Lấy đấu tranh giai cấp đánh tan tác, li tán dân tộc. Mang
gia sản thiêng liêng vô giá của dân tộc ra đánh đổi lấy liên minh giai cấp,
liên minh ý thức hệ như chia đôi đất nước, chia dân tộc Việt Nam ra làm hai nửa
đối kháng chém giết nhau. Vạch trận tuyến chiến tranh ý thức hệ trong lòng dân
tộc Việt Nam. Đưa nhân dân Việt Nam ra làm vật hi sinh trong cuộc chiến tranh
đó. Cắt đất đai thiêng liêng của tổ tiên cho Tàu Cộng để duy trì liên minh ý thức
hệ với Tàu Cộng, để duy trì sự thống trị của đảng Cộng sản Việt Nam .
. . Còn vô vàn dẫn chứng không thể kể xiết về lịch sử tồn tại của đảng Cộng
sản Việt Nam là lịch sử thí bỏ lợi ích to lớn của dân tộc Việt Nam vì lợi ích
nhỏ bé của đảng. Những dẫn chứng này, lịch sử sẽ không bỏ sót và lịch sử sẽ
phán xét công bằng, sòng phẳng.
Không thể nhắm
mắt trước lịch sử và không thể lừa dối nhân dân khi cố tình ghi trong điều 4 Hiến
Pháp rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam đại biểu trung thành lợi ích cả dân tộc Việt
Nam!





RSS Feed
Facebook
Twitter
0 comments:
Đăng nhận xét