Ngành giáo dục đã trải qua ba lần cải cách, nhưng vì
vẫn điều hành lối cũ nên càng cải cách càng rơi vào khủng hỏang. Từ góc
nhìn kinh tế muốn tạo cạnh tranh, tạo công bằng và hiệu quả giáo dục cần
được tư thục hóa.
Giáo Dục Là Công Việc Nhà Nho
Tổ chức giáo dục thời xưa được học giả Đào Duy Anh ghi lại trong quyển Việt Nam Văn Hóa Sử Cương như sau:
“Ở mỗi huyện có quan Huấn đạo,
mỗi phủ có quan Giáo thụ, dạy Tứ Thư Ngũ Kinh cho học trò khá. Ở mỗi tỉnh có
quan Đốc học dạy các sinh đồ cao đẳng. Ở Kinh đô có trường Quốc tử giám. Các vị
học quan kể trên đều ở dưới quyền giám đốc của bộ Lễ hoặc bộ Học. Trong dân
gian thì xưa nay việc học vẫn hoàn toàn tự do. Thầy học thì có thầy khóa, thầy
đồ, thầy tú dạy trẻ con, cho đến bậc đại khoa không xuất chính, hay các quan
trí sĩ, có người dạy đến trăm nghìn học trò.”
Giáo dục có thể xem như là công việc của nhà nho hơn là của quốc gia. Trường học thì phần lớn
là nhà riêng của thầy nho, hoặc ở chùa, đình, miễu hay nhà một người giàu có trong làng. Các thầy nho hòan tòan độc lập với công quyền. Họ không được tài trợ và cũng không bị kiểm soát đôn đốc bởi bất cứ cơ quan nào.
Sang Thời Pháp Thuộc
Giáo dục thời Pháp nhằm đào tạo một số người biết tiếng Pháp, biết Quốc Ngữ, có đôi chút hiểu biết để ra làm công chức, làm thông dịch phục vụ cho người Pháp. Mục tiêu xa là đồng hóa người bản xứ biến họ thành những người Pháp về phương diện văn hóa.
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, người Pháp đã mở
rộng 1 hệ thống giáo dục công lập rộng khắp Đông Dương. Đồng thời từ mục
tiêu truyền giáo một số trường tư do giáo hội Thiên Chúa Giáo cũng đã xây
dựng và điều hành.
Sau năm 1930 một số tư thục do tư nhân mở ra ở Hà
Nội, Huế, Sài Gòn và ở một vài tỉnh lỵ lớn đa số là các trường bậc Tiểu
Học. Bậc Cao Đẳng Tiểu Học chỉ có ở Hà nội, Huế và Sài gòn. Bậc Tú
Tài chỉ có ở Hà Nội và Sài Gòn.
Nhà nho vẫn được tiếp tục vai trò giáo dục. Nhưng
theo quyết định của Toàn Quyền Paul Beau năm 1906-07 thì các thầy đồ, thầy khóa
ở xã thôn, các quan giáo huấn, đốc học ở phủ, huyện, tỉnh, ngoài việc dạy chữ
Hán phải dạy thêm chữ Quốc Ngữ.
Khi Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập, người Pháp
đã không ngăn cấm hoạt động. Người Pháp chỉ giải tán khi biết được đằng sau
Nghĩa Thục là phong trào chống lại thực dân.
Tư Thục Trong Nền Giáo Dục Miền Nam
Giáo dục miền Nam nhằm đào tạo những công dân tốt có khả năng phụng sự xã hội. Vì vậy vai trò của chính phủ là làm sao tạo được sự công bằng và hiệu quả trong việc đầu tư cho giáo dục.
Chiến lược giáo dục miền Nam đựơc nêu rõ trong Hiến
Pháp Việt Nam Cộng Hòa: (1) Quốc Gia công nhận quyền tự do giáo dục, (2) nền
giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí, (3) nền giáo dục Đại Học
được tự trị, (4) những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ
để theo đuổi học vấn và giáo dục, và (5) một ngân sách thích đáng phải được
dành cho việc phát triển văn hóa giáo dục.
Để thực hiện những mục tiêu trên chính phủ miền Nam đã chia sẻ
trách nhiệm với các thành phần khác trong xã hội. Những con số dưới đây có thể
nói lên được phần nào sự phát triển của hệ thống tư thục trước đây.
Năm 1964 có chừng 435 ngàn học sinh tiểu học chiếm
28 phần trăm tổng số học sinh tiểu học đã được giáo dục tại các trường tư thục.
Đến năm 1970 con số tăng lên 452 ngàn nhưng tỉ lệ đã giảm xuống chỉ còn 18 phần
trăm.
Ở bậc trung học cả tỉ lệ lẫn số lượng học sinh đều
liên tục gia tăng. Nếu năm 1964 các trường tư thục thu nhận 181 ngàn học sinh
hay 62 phần trăm tổng số học sinh, thì đến năm 1970 con số tăng gần ba lần lên
đến 484 ngàn học sinh chiếm tỉ lệ 78 phần trăm tổng số học sinh trung học.
Về giáo dục đại học, 6 Viện đại học tư thục cũng đã
được thành lập với chừng 40 ngàn sinh viên tốt nghiệp.
Nhận thức giáo dục cơ bản mang lại công ích xã hội
cao nhất nên chính quyền miền Nam
đã tập trung ngân sách quốc gia cho giáo dục tiểu học. Học sinh công lập được
hòan tòan miễn phí. Ở bậc tiểu học học sinh còn được ăn bánh mì và uống sữa
miễn phí. Sách giáo khoa bậc tiểu học cũng được phát không.
Các trường tư nhờ cạnh tranh nên học phí thấp và
phẩm chất giáo dục cũng không mấy chênh lệch. Bởi thế đa số trẻ em miền Nam đều được
đến trường ăn học.
Nhờ chia sẻ trách nhiệm với tư nhân, phía chính phủ
đã chu cấp một đời sống căn
bản cho giáo chức và các công chức trong ngành giáo dục. Nhờ đó miền Nam đã xây dựng được một nền giáo dục có giá trị ngang tầm quốc tế.
bản cho giáo chức và các công chức trong ngành giáo dục. Nhờ đó miền Nam đã xây dựng được một nền giáo dục có giá trị ngang tầm quốc tế.
Đến năm 1975, hằng ngàn trường tư thục và các viện
đại học đã bị tịch thu và nhập vào hệ thống giáo dục Xô Viết. Hệ thống này đến
nay cũng không mấy thay đổi vẫn độc quyền và chính trị hóa giáo dục.
Trường Công Đã Biến Thành Trường Tư
Ngân sách cho giáo dục hiện nay đã lên đến 20 phần trăm tổng ngân sách quốc gia. Nhưng vì phải trải rộng cho tòan ngành, thiếu cạnh tranh và hiệu quả, nên các cơ sở học đường đều nghèo nàn, xuống cấp, lương giáo viên không đủ sống, có địa phương thiếu lương trả giáo viên,… chưa kể đến tình trạng tham nhũng tràn lan khắp ngành giáo dục.
Các trường công lập cũng thâu học phí và nhiều khỏan
phí khác gây không ít khó khăn cho phụ huynh học sinh. Trường công đã trở thành
trường tư.
Một vài trường tư được thành lập nhưng vì thiếu môi
trường cạnh tranh lành mạnh, thiếu học sinh, nên học phí quá cao. Gia đình
trung lưu cũng không đủ khả năng cho con em theo học.
Theo thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số
49/2010/NĐ-CP, kể từ ngày 15/7/2014 các học sinh tiểu học công lập sẽ không
phải đóng học phí. Thông tư không nói các lệ phí khác có được miễn hay không?
Không thu được học phí, ngân sách lấy gì bù đắp và thực tế sẽ ra sao?
Tư thục hóa nền giáo dục Việt Nam
Các sinh viên đại học sau vài năm theo học sẽ có công ăn việc làm. Họ sẽ có lợi tức và có khả năng hòan trả các chi phí giáo dục. Người có giáo dục đại học lại thường dễ thay đổi nghề nghiệp và có nhiều khả năng xuất ngọai.
Vì thế một nước chậm phát triển như Việt Nam thay vì đầu
tư cho giáo dục Đại Học nên để các khỏan ngân sách cho việc đầu tư vào giáo dục
bậc tiểu học.
Cuộc hội thảo về cải cách giáo dục Đại Học do Nhóm
đối thoại giáo dục và Lãnh sự quán Hoa Kỳ vừa tổ chức cho thấy việc tự trị đại
học được xem như là giải pháp để thúc đẩy việc cải cách giáo dục đại học Việt Nam. Có điều
các diễn giả không nói rõ tự do chính trị và tự do giáo dục chính là căn bản
của một nền đại học tự trị.
Quyền tự trị đại học đã được nêu rõ trong Hiến Pháp
Việt Nam Cộng Hòa. Miền Nam
không có Bộ Đại Học. Bộ Giáo dục chỉ có một thứ trưởng đặc trách giáo dục đại
học, công việc của vị này chủ yếu là lo thực thi những chính sách và ngân sách
giáo dục đại học.
Đại học tự trị về học vụ, tài chính và điều hành.
Các hội đồng ở cấp viện đại học và cấp trường đại học (hay phân khoa) có quyền
thảo luận và quyết định mà không phải trình báo hay xin chỉ thị từ bất cứ ai.
Các Khoa trưởng không do Bộ Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng
Khoa bầu lên.
Khi Đại Học chưa được quyền tự trị thì khó có sự
cạnh tranh công bằng giữa đại học công và tư. Một bên đã có nhà nước bảo hộ
phía bên kia cần lợi nhuận để tiếp tục duy trì và phát triển. Thiếu cạnh tranh
thì khó có thể nâng cao được phẩm chất của nền giáo dục.
Cũng trong thời gian qua, tranh chấp diễn ra tại đại
học tư thục Hoa Sen xoay quanh việc ai quyết định chiến lược và thành quả của
chiến lược thuộc về ai? Cuộc tranh chấp nhằm chọn giữa hai phương cách quản lý
đại học: vụ lợi hay vô vụ lợi.
Tổ chức vô vụ lợi (phi lợi nhuận) họat động không vì
lợi nhuận nhưng về lâu dài việc quản lý cũng cần có thặng dư để tái đầu tư và
phát triển. Ở các nước Tây Phương các tổ chức vô vụ lợi họat động trong ngành
giáo dục được khuyến khích bằng cách miễn thuế lợi tức. Các cá nhân hay công ty
đóng góp cho các tổ chức giáo dục vô vụ lợi cũng được khai giảm thuế lợi tức
hằng năm.
Để khuyến khích phát triển giáo dục tư thục, ngòai
việc chính phủ cấp học bổng hay ngân sách cho đại học cả tư lẫn công, có quốc
gia còn cho các sinh viên vay tiền học phí và chỉ hòan trả lại khi họ đã có
công ăn việc làm vững chắc.
Nhiều quốc gia miễn thuế cho các dịch vụ thuộc về
giáo dục. Có quốc gia còn khấu trừ thuế lợi tức các chi tiêu cá nhân hay công
ty đầu tư cho việc giáo dục và đào tạo.
Chính phủ cũng cần tạo mọi cơ hội để các trường đại
học tư thục được sự giúp đỡ của chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các
công ty liên quốc, các cộng đồng hải ngọai và các mạnh thường quân quan tâm đến
giáo dục.
Dựa trên căn bản chiến lược, chính sách và luật pháp
quốc gia, các trường đại học tư thục có tòan quyền quyết định giữa tổ chức quản
lý đại học bằng cách vụ lợi hay vô vụ lợi.
Các trường tiểu học và trung học tư thục, việc điều
tài chính và quản lý tùy thuộc vào
Ban Quản Trị nhà trường. Bộ Giáo Dục chỉ quy định chương trình và giám sát phẩm chất giáo dục các trường.
Ban Quản Trị nhà trường. Bộ Giáo Dục chỉ quy định chương trình và giám sát phẩm chất giáo dục các trường.
Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đã tư
thục hóa nền giáo dục của họ. Nhiều nước như Úc còn xem giáo dục như mặt hàng
xuất khẩu chiến lược.
Trong khi ấy nền giáo dục Việt Nam vẫn lệ thuộc vào
tư tưởng giáo dục kiểu Xô Viết trước đây, khi tự do chính trị và tự do giáo dục
chưa có, mọi cải cách đều không mang lại kết quả, nền giáo dục càng ngày càng
suy thóai, dẫn đến khủng hỏang xã hội.
Năm 1945, chỉ trong vòng vài tháng chính phủ Trần
Trọng Kim đã hòan thành cuộc cách mạng giáo dục lần thứ nhất chuyển chương
trình giáo dục từ Pháp ngữ sang Việt ngữ. Xây dựng giáo dục trên ba nguyên tắc:
dân chủ, dân tộc, khoa học và lấy lý tưởng phụng sự quốc gia làm tôn chỉ.
Giáo dục gắn liền với phát triển quốc gia, bởi thế
muốn đưa đất nước đi lên chúng ta cần sửa sọan tư tưởng sẵn sàng lấy việc tư
thục hóa làm nền tảng cho cuộc cách mạng giáo dục lần này.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne Úc Đại Lợi
6-8-2014

RSS Feed
Facebook
Twitter
0 comments:
Đăng nhận xét