Hòa bình với đặc tính Trung Quốc

Lưu Bình (RadioCTM)


(viết từ Nam Kinh, tỉnh Giang Tô)

Năm 1991, Việt Nam và Trung Quốc chính thức nối lại quan hệ ngoại giao sau hơn mười năm bị gián đoạn bởi cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Cũng trong hơn mười năm không kết nối quan hệ ngoại giao, thông tin qua lại giữa Việt Nam và Trung Quốc hầu như không có, vì thế trong thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, người Việt Nam  không biết nhiều về Trung Quốc, ngoài ấn tượng đó là “quân xâm lược”, “quân bành trướng”.

Nhưng với thế hệ người Việt trải qua thời kỳ kháng chiến chống Pháp và cuộc chiến Việt Nam sau đó thì Trung Quốc còn “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, vì Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều trong cuộc chiến tranh gọi là “chống Mỹ và thống nhất đất nước”. Nhưng sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, người “đồng chí anh em” đã quay lại đòi những gì mà họ đã giúp. Vậy thực chất của “nghĩa cử” giúp đỡ đó có khác gì cho vay nặng lãi. Mà cái giá Việt Nam phải trả là quá đắt.

Như đã đề cập ở trên, sau cuộc chiến năm 1979, trong khoảng thời gian cắt đứt quan hệ ngoại giao, người dân Việt Nam hầu như không có thông tin thêm gì về đất nước Trung Quốc.  Hình ảnh mà người ta còn giữ được về Trung Quốc đều là những hình ảnh từ những năm 60, 70. Lúc đó, Trung Quốc đang đắm chìm trong đau khổ vì những kế hoạch “đại nhảy vọt”, “cách mạng văn hóa” đầy tham vọng và ngu xuẩn của Mao. Năm 1976 Mao chết, cách mạng văn hóa kết thúc. Năm 1978 Trung Quốc bắt đầu tiến hành cải cách mở cửa, sau đó là chiến tranh biên giới “dạy cho Việt Nam một bài học”, và từ đó quan hệ giữa hai nước dừng lại.

Chính trong khoảng thời gian Việt Nam không biết gì về Trung Quốc là lúc Trung Quốc bắt đầu chữa trị vết thương, phát triển kinh tế. Về phương diện này, Trung Quốc được coi là đã thành công khi liên tục tăng trưởng kinh tế ở mức cao trong suốt hai mươi năm. Đương nhiên cái giá mà người Trung Quốc phải trả cho sự phát triển kinh tế quá nóng cũng không hề nhỏ. Tuy nhiên, với người Việt Nam, sau khi hai nước nối lại quan hệ ngoại giao vào năm 1991, dường như Việt Nam không quan tâm đến mặt trái của phát triển ở Trung Quốc, mà chỉ ngẩn ngơ về những thành tựu mà người anh em cộng sản này đã đạt được. Điều này cũng giống như một người bị nghèo đói ám ảnh lâu ngày, khi có cơ hội làm giàu là sẽ bằng mọi cách kiếm tiền, bất chấp hậu quả, và cũng không đủ kiến thức để có thể hiểu biết hoặc suy tính những hậu quả có thể phải gánh chịu trong tương lai. Vậy là sau khi hữu hảo trở lại, Việt Nam ra sức học tập Trung Quốc, và nhất nhất nghe theo Trung Quốc. Nếu chưa lần nào được ra khỏi Việt Nam để thấy các nước tây phương như thế nào, hoặc ít ra để thấy miền nam VN trước năm 1975 (vượt trước  Manila, Bankok,v.v.. dù đang trải qua chiến tranh), thì những ai lần đầu tới Trung Quốc cũng phải giật mình ngạc nhiên vì sự phát triển nhanh chóng và hiện đại của Trung Quốc. Từ chỗ choáng ngợp chuyển sang khâm phục là điều dễ hiểu.

Chính vì tâm lí khâm phục, nể sợ đó mà người Việt Nam đã dễ dàng để cho Trung Quốc lấn lướt và bắt nạt trên đủ mọi lĩnh vực. Kinh tế phụ thuộc Trung Quốc, văn hóa chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Trung Quốc, bao gồm cả những dị biến văn hóa trong cơ chế thị trường núp bóng xã hội chủ nghĩa cũng tràn lan ở Việt Nam; gây nên những bất cập và bức xúc trong xã hội y như nó đã và đang hoành hành tại Trung Quốc. Trong cơn sốt “Trung Quốc hôm nay là Việt Nam ngày mai” và tìm mọi cách học hỏi làm theo, chính sách hộ chiếu của nhà nước CSVN đối với dân Trung Quốc đã tạo điều kiện dễ dàng cho số lượng người Trung Quốc sang Việt Nam làm ăn sinh sống ngày một đông, và dường như đang có phong trào đàn ông Trung Quốc lấy vợ Việt Nam. Từ những cô gái nông thôn mới lớn ước mơ đổi đời bằng cách lấy chồng ngoại, đến cả những du học sinh người Việt sang Trung Quốc du học và lấy chồng. Thế nhưng vẫn không mấy người nhìn ra sự nguy hiểm của ảnh hưởng Trung Quốc ở Việt Nam. Vừa trải qua một kỳ Thế vận hội 2008 hoành tráng ở Bắc Kinh, năm 2009, Trung Quốc kỉ niệm 60 năm thành lập nước, lại một dịp để phô trương cho thế giới biết sức mạnh của Trung Quốc. Ngoài xe tăng máy bay tên lửa tàu chiến phô trương trong ngày kỉ niệm quốc khánh, sau đó còn có hàng loạt các hội thảo nghiên cứu bài viết nói về sức mạnh mềm của Trung Quốc ở khắp các diễn đàn trong nước và quốc tế. Người Trung Quốc ngất ngây trong viễn tưởng sẽ vươn lên làm bá chủ toàn cầu. Và mộng bá chủ sẽ được bắt đầu bằng cái lưỡi liếm xuống Biển Đông, và thôn tính “thằng em ngây thơ” Việt Nam.

Nhưng lúc này đa phần người dân Việt Nam, đặc biệt những ai đã từng tới Trung Quốc hoặc ở tại đó một thời gian, vẫn không được biết đến cái gọi là “nguy cơ Trung Quốc”. Một bộ phận nhỏ những người có thông tin sau khi biết chính phủ Việt Nam đồng ý để Trung Quốc khai thác Bô-xít ở Tây Nguyên đã cực lực phản đối, nhưng những ý kiến đó đã nhanh chóng bị dập tắt bởi cái mũ “chống phá nhà nước”. Người ta vẫn ngây thơ tin tưởng rằng dựa vào người anh em giàu mạnh thì mình cũng được “thơm lây”.

Cho đến ngày 26 tháng 5 năm 2011, Trung Quốc cho tàu hải giám tiến sâu vào vùng lãnh hải của Việt Nam cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam, thì dường như người Việt Nam ngây thơ mới bừng tỉnh nhận ra rằng “kẻ thù ở ngay sau lưng ta đó”. Từ lúc này, sự giàu mạnh hay phô trương quân sự của Trung Quốc không còn là niềm vui mừng của Việt Nam như lời một vị tướng trong quân đội đã từng nói nữa, mà đó đã thực sự là tín hiệu đe dọa đối với chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam.

Sau 20 năm hữu hảo và sùng bái, giờ đây người Việt Nam đã bắt đầu nhìn Trung Quốc bằng con mắt khác. Những hình ảnh về một Trung Quốc dã man và đầy tham vọng của thập niên 60 của thế kỷ trước dường như đang được chính nhà cầm quyền Trung Quốc ngày nay đưa ngược trở về, mặc dù nó đã khoác lên người bộ áo kinh tế lòe loẹt và những lời hứa hẹn hòa bình đầy giả dối. Mà không chỉ riêng Việt Nam, sau những tham vọng phi nghĩa của Trung Quốc tại Biển Đông, cả thế giới sẽ nhìn lại Trung Quốc bằng con mắt khác, và chính điều này sẽ phá tan những nỗ lực bao lâu nay của Trung Quốc khi cố gắng để chứng tỏ cho thế giới thấy rằng họ đang trỗi dậy trong hòa bình.

Không, bây giờ không còn ai ngây thơ tin rằng Trung Quốc trỗi dậy trong hòa bình nữa đâu. Cả thế giới đang cảnh giác với từng bước đi của Trung Quốc. Còn những ai vẫn bảo Trung Quốc yêu hòa bình và  đẹp lộng lẫy như 16 chữ vàng trên bàn thờ, bạn cứ tới gần mà xem. Họ đều đã có hộ chiếu Trung Quốc trong túi từ lâu rồi!

2 comments:

Chỉ có nhóm Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người của đảng csvn mới tin chính quyền Trung Quốc thôi, chứ đâu có chính quyền của các nước khác. Rồi mai đây đảng csvn cũng sẽ hát bài: "Qua Cơn Mê" thôi.

"Qua Cơn Mê" thì đã muộn rồi, anh ôi!

Đăng nhận xét

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More