Khởi Đầu

Phạm Diễm Hương - DienDanCTM

Cách nay 41 năm, ngày tôi đậu Tú tài phần 2, ban A, hạng Bình Thứ, trong bữa cơm tối của gia đình, với món sườn ram nước mắm thơm phức quyện đầy ngôi nhà nhỏ 3 phòng, của khu cư xá Đoàn Kết, Đà Nẵng, Bố tôi thông báo với cả nhà gồm Mẹ và 5 em của tôi rằng: “Chị đã đậu Tú Tài phần 2, các con phải noi gương chị, học cho giỏi. Chị sẽ vào Saigòn học đại học, chị sẽ đi theo nghề của Bố.” Nét mặt Bố tôi rạng rỡ, hãnh diện, hể hả, nhất là sau câu nói: chị sẽ theo nghề Bố.
Mẹ tôi thì cười thật tươi, giá như Bố tôi nói thêm rằng: “chị đậu Tú tài cao, cũng là do công lao của Mẹ”, chắc chắn nước mắt Mẹ tôi sẽ tràn đầy mi. Còn 5 em tôi, 2 trai 3 gái, mắt mở to, nhìn tôi vừa thân thiện vừa thán phục. Các em không ngờ người chị từng leo cây trứng cá, bị đòn quắn cả chân, nhưng vẫn chứng nào tật nấy; người chị từng bị quỳ vì chơi u rách xoạc cả hai vạt áo dài, mặt mũi lấm lem; người chị từng ăn gian khi chơi đánh thẻ, nhảy lò cò với các em, thế mà nay đã là người lớn, có bằng Tú Tài, và sắp vào học ngành của Bố.

Bố tôi là bác sĩ quân y, ngày ấy ngoài giờ làm việc trong tổng y viện, ông làm thêm tại 1 bệnh viên tư, chuyên về sản phụ khoa. Bố tôi làm việc vất vả suốt ngày đêm, hình như đêm nào ông cũng phải đến bệnh viện vì có sản phụ sắp sinh. Tôi thắc mắc tại sao em bé lại thích chui ra vào giữa đêm? cái nghề bác sĩ đỡ đẻ này xem ra cực khổ quá!. Khoảng năm đệ tam, đôi lần tôi được đến bệnh viện tư nơi Bố tôi làm, tôi ngồi cạnh những sản phụ có bụng to vượt mặt, được các bà ấy cho sờ vào bụng để xem em bé quẫy đạp như thế nào! Có lúc hình như tôi nắm được cả bàn chân nhỏ xíu, tôi nghĩ cứ nắm chặt xem “nó” làm gì? Thật lạ! “nó” nằm im! Thế là tôi hơi thích thích cái nghề của Bố!
Tôi nhớ lúc tôi chừng 10 tuổi, vào buổi chiều chạng vạng của ngày rằm tháng Tư âm lịch, Bố tôi chở cả nhà xuống vùng chợ Cồn xem xe hoa nhân ngày Lễ Phật Đản. Không hiểu tại sao, đột nhiên em gái út tôi, lúc ấy mới 6 tháng tuổi, khóc ré lên, Mẹ tôi dỗ mãi không nín, cho em bú, em càng khóc tợn, thế là mới xem được 2,3 chiếc xe hoa, chúng tôi phải lên xe đi về. Suốt dọc đường, em vẫn khóc rỉ rả. Về đến nhà, nhìn em, mẹ tôi thất thần la lên: “Sao miệng con bé lại méo thế này!” chúng tôi xúm lại nhìn em, mẹ tôi đưa em cho Bố bế, em lại khóc lên, tôi nhìn thấy rõ chiếc miệng đỏ như thoa son, bị méo xệch về một bên và dòng sữa trắng từ miệng chảy dọc theo bên mép bị xệ. Tôi nhìn Mẹ, nước mắt mẹ đã tràn trên má, thế là tôi hu hu khóc theo, tôi nhón gót thơm lên má em, hứa là sẽ học ngành của Bố để chữa cho em. Hằng ngày, tôi phụ mẹ cho em bú sữa, ăn bột, mấy ngày đầu em khóc hoài vì sữa và bột không chảy đầy vào miệng, nhưng chỉ vài ngày sau, thương làm sao, em đã biết phải co môi lại để giữ sữa và bột bớt chảy ra ngoài. Mẹ tôi ôm em khóc nức nở, còn tôi nước mắt cũng đầm đìa và thương em vô cùng tận. Em thông minh quá, em biết thích ứng với hoàn cảnh của mình. Có lúc quá thương cảm, tôi nghĩ em mình bị tật nguyền, thế là tôi khóc to, mếu máo hỏi Bố: “Bao giờ thì miệng em hết méo hả Bố?” Tôi bắt gặp ánh mắt bối rối của ông, nhưng Bố tôi trấn an: “ Vài tuần thôi, em sẽ lại cười tươi như hoa ấy mà”. Tôi đếm nhiều lần “vài tuần” đi qua, nhưng em tôi vẫn vậy. Như một trách nhiệm, tôi thấy gần nghề Y hơn một chút nữa,và tôi thủ thỉ với Bố tôi rằng: “Lớn lên con sẽ học nghề của Bố”.
Thời gian trôi, tôi quên bẵng lời hứa thơ ngây, nhân hậu đó, và không ngờ lời hứa ấy đã khiến Bố tôi hãnh diện và tin tưởng đứa con gái đầu lòng sẽ nối nghiệp mình.
Hồi đó, đa số con gái chọn ban A, gạo bài là chính; con trai chọn ban B, ban toán; còn các anh chị chọn ban C, tức ban văn chương thì được xem như là …thiên tài, chịu chơi, lãng mạn, vì chả cần học đã nói chuyện như các triết gia! Phần tôi, tôi chỉ nghĩ đơn giản là chọn ban A cho chắc, cứ thuộc bài là đậu, vì theo ban B, hay ban C, lỡ tắc bài toán, hay bình bài luận văn trật lất thì kể như xong. Câu “học tài thi phận” ảnh hưởng nhiều đến dân ban B, ban C hơn là dân ban A!
Thực tình, thỉnh thoảng tôi có nghĩ đến nghề Y. Nhưng những giờ Việt văn từ năm đệ Ngũ đã cuốn hút tôi, và một cách nào đó, làm uỷ mị tâm hồn tôi. Tôi muốn trở thành cô giáo Việt Văn để tìm hiểu xã hội qua văn chương, tìm hiểu sự tồn tại và hồi sinh của văn học Việt trước những biến động lịch sử.
Tôi đã từng có những giấc mơ…rất đa dạng, vừa khoác chiếc áo blouse trắng chạy xớn xác trong bệnh viện, vừa nghiêm trang dịu dàng trong tà áo dài tím, đứng bục giảng về luận văn trước hàng trăm con mắt gà gật của học trò, vừa xông xáo bút giấy, máy ảnh… trong vai trò phóng viên báo chí, vừa lãng mạn kéo vĩ cầm, lướt phím piano, gẩy đại hồ cầm với dòng nhạc tiền chiến của Văn Cao, Đoàn Chuẩn Từ Linh, Đặng Thế Phong, Vũ Thành… hoặc nhạc cổ điển của Beethoven, Chopin, Schumann, Mozart, Schubert… Chưa hết, giấc mơ còn nhón bước sang lãnh vực hội họa, cũng tôi, với tấm tạp dề dính đủ màu sơn, tóc cột đuôi gà, mê man nguệch ngoạc trên tấm canvas…
Tôi chưa biết phải nói gì, phản đối hay chấp nhận học Y, thì Mẹ tôi bàn: “Mẹ thì muốn chị học Dược. Con gái học Dược là đúng nhất, vừa nhẹ nhàng, vừa có thì giờ coi sóc gia đình”. Trời! học Dược? tôi chưa hề nghĩ tới nghề này. Cái ngành liên quan đến chế thuốc, tán thuốc, nghiền thuốc, có công thức hóa học dài triền miên bất tận! Tôi dốt môn Hoá, nhưng thỉnh thoảng được điểm khá về môn này, chỉ vì học thuộc các công thức như con vẹt, chứ không hiểu gì nhiều.
Bố tôi lắc đầu ngay: “Con nó sẽ học ngành Y, còn Dược thì để cho con Hạnh. Bố nói thế có đúng không các con?” Trước áp lực vô hình từ tình thương của Bố, và biết mình phải trả lời, tôi đáp xuội lơ: “Dạ, con cũng nghĩ như vậy”, trong khi Hạnh, cô em thứ ba của tôi lúc ấy mới học đệ ngũ, nhìn bố tôi không chớp mắt!
Sau bữa cơm tối, cả nhà ra phòng khách, chị em tôi ngồi sát bên nhau trên chiếc ghế salon dài, Bố tôi tiếp tục bàn: “Bố sẽ điện thoại cho Bác Thinh, để con vào ở với gia đình Bác, con sẽ đi học chung với hai chị trong ấy. Như vậy Bố Mẹ mới yên tâm. Bố sẽ nhờ hai chị ghi tên cho con học luyện thi Y Nha Dược. Sau khi đi Đà Lạt về, Bố sẽ dẫn con vào Saigòn.”.
Thực sự, tôi chưa biết sẽ học ngành nào và học ở đâu. Tôi vừa xong Tú Tài, vừa bước ra khỏi Trung Học, đang ngập ngừng trước ngưỡng cửa đại học. Đại học vừa xa lạ, vừa rộng lớn, đủ mọi ngành nghề hấp dẫn, tương lai đầy hứa hẹn. Tôi không biết rõ khả năng của mình thiên về lãnh vực nào, vì thích một nghề nào đó là một chuyện, học nổi hay không và ra trường được hay không lại là một vấn đề vô cùng phức tạp khác! Tôi đã có kinh nghiệm trong việc chọn lựa như vầy: tôi rất thích môn Toán, nhưng tôi nhát gan, sợ bóng sợ gió, nên chọn ban A học bài cho chắc!

Học ở đâu cũng là điều khiến tâm trí tôi ngổn ngang. Các bạn tôi đa số ra Huế học Sư phạm, tôi muốn ra Huế với các bạn. Đại học Huế có tất cả các phân khoa, kể cả Y Khoa. Tôi có ra Huế năm lên 10, nên Huế chỉ là ký ức mờ nhạt. Tôi muốn nhìn lại Huế cổ kính với lăng tẩm đền đài, Huế thơ mộng với sông Hương núi Ngự, Huế rạo rực với những con đò đêm, Huế chộn rộn với chợ Đông Ba, quán cơm âm phủ, cơm hến, bún bò… và cũng để chứng kiến Huế hồi sinh sau thảm nạn Mậu Thân 68.
Tôi muốn ra Huế học cũng vì bịn rịn các em, là những người bạn nhỏ, đã luôn nhường tôi, và hết mực thương tôi. Huế chỉ cách Đà Nẵng 1 đường đèo Hải Vân ngắn ngủi, tôi đoan chắc, nếu tôi học ở Huế, các em sẽ được đi chung xe, đưa tôi đến tận Huế, để xem nơi chị ở, chị học thế nào.
Còn Saigòn, cái tên nghe sao mà gần, và cũng là xa. Tôi rời Saigòn năm lớp tư, khi cả gia đình theo Bố tôi di chuyển ra Đà Nẵng. Tôi chỉ còn nhớ Sàigòn với con hẻm nhỏ xíu ở Phú Thọ, ngoằn nghèo nhấp nhô, có hai dãy nhà tole hai bên; và Sàigòn với trường tiểu học Trương Minh Giảng, bên trái có quán bán siro nước đá nhận, khách hàng thường trực là những cô cậu học trò nhỏ với màu môi thay đổi theo màu của siro: xanh, vàng, đỏ.
Còn trường đua Phú Thọ, sở Thú, vườn Tao Đàn…là những hình ảnh không màu, rất nhạt trong trí nhớ của tôi.

Hai tuần sau kết quả kỳ thi, gia đình chúng tôi đi nghỉ hè ở Đà Lạt mừng tôi thi đậu. Đây là chuyến nghỉ hè đầu tiên trong đời và cũng là lần đầu tiên chúng tôi đến Đà Lạt. Máy bay đáp xuống phi trường Liên Khương vào buổi chiều, trời mát lạnh, đồi thông nối nhau chập chùng, thơm ngát. Chúng tôi về đến khách sạn Palace thì trời vừa nhá nhem tối, nhưng tôi vẫn nhìn được rặng Mimosa vàng ối, bao quanh khách sạn. Mùi tràm của Mimosa quyện với mùi thông đã khiến Đà Lại về đêm thật tuyệt diệu. Tôi hân hoan bước vào vòng tay nồng ấm của Đà Lạt.
Trời về khuya, Đà Lạt lên đèn, đẹp ơi là đẹp, ánh đèn vàng hắt ra từ những ngôi nhà thời Pháp nằm ở lưng chừng đồi, khiến Đà Lại đẹp như những thành phố Âu châu trong phim ảnh. Những ngày sau đó là những chuyến đi thác Prenn, thác Camly, thăm hồ Than Thở, lên Đồi Cù, đi chợ Hòa Bình, đi ăn tiệm với cơm thố và ớt Đà Lạt xào thịt bò.
Tôi vừa bén hơi Đà Lạt, thì đã đến ngày về , bảy ngày hè qua thật nhanh, tôi muốn ở lại Đà Lạt, và học ở đây, nhưng Đà Lạt chỉ có trường Chính Trị Kinh Doanh, tôi lại chưa hề biết về ngành này, nên chỉ còn hai chọn lựa hoặc là Đại Học Huế, hoặc Đại Học Saigòn. Tôi sẽ không chọn trường Đại Học nào dạy hay, dạy giỏi, mà sẽ chọn nơi nào tôi thích sống và sẽ cho tôi cuộc sống phong phú nhất.
Chuyến đi Đà Lạt đã ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định của tôi. Đà Lạt với hoa rừng rực rỡ núi đồi, Đà Lạt sang cả thơm phức, khác với Huế trầm mặc, cũ kỹ rêu phong, tôi nghĩ chắc tôi sẽ buồn lắm khi ở Huế. Tôi tự nhủ, Saigòn rất gần Đà lạt, từ Đà Nẵng lên Đà Lạt chỉ có vài giờ bay, như vậy Đà Nẵng có xa Saigòn là bao!. Có lẽ tôi vào Saigòn thôi! Bỗng dưng Huế như gần, như quen, như cũ, như Đà Nẵng. Tôi sẽ chia tay Đà Nẵng, chia tay Huế. (PDH, 9/11)

1 comments:

Lòng bồi hồi khi nghe Diễm nhắc lại thời là học sinh Trung Học...Bây giờ, đã là cụ nội cụ ngoại, nhưng nhiều bạn bè xưa vẫn kiên cường trên 12 cây số cuối cùng!

Đăng nhận xét

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More