![]() |
Nhà
thơ Nguyễn Trọng Tạo (phải) và nhà thơ Mỹ
Paul Hoover tại San Franico năm 2008.
|
Hồ Hồng Tuyến
Bài
thơ “Giây lát với Chí Phèo” của nhà thơ Tùng Bách “Sinh nở” vào lúc
đất nước Việt Nam mới chân ướt, chân ráo bước ra từ thời kỳ bao cấp
khốn khổ. Hơn chục năm sau (2012) bài thơ “ Nhân dân” của nhà thơ Nguyễn
Trọng Tạo mới “cất tiếng khóc” chào đời. Tuy cách xa nhau về thời
gian, thế sự nhưng cả hai nhà thơ xứ Nghệ nổi tiếng đã gặp nhau
ở “ ý tưởng lớn” là vì nhân dân
quên mình.
Quê
của Lê Tùng Bách (bút danh Tùng Bách) ở Hương Sơn, Hà Tĩnh, nơi mảnh
đất địa linh nhân kiệt đã sinh ra thi hào Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn
Công Trứ… Tùng Bách sinh Ký sửu (1949) là con trâu tự làm lấy mà ăn,
vất vả, bươn chãi, đúng là số lận đận.
Nhưng ở tuổi này có tài, bất chấp danh vọng, sẵn sàng cởi áo từ quan để về quê đi cày. Xem ra Tùng Bách cũng đầy khí phách Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ. Nguyễn Du ngoài đời gặp hoạn quan cũng chào, nhưng trong thơ thì “ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Nguyễn Công Trứ có một lần được các quan kính nể mời lên mâm trên ăn thịt chó, tiên sinh nói “ Trên chó, dưới chó, ngồi chỗ mô cũng chó”, làm hết thảy tím mặt mà không làm gì được. Tùng Bách chưa làm quan bao giờ, có chăng mới chỉ là anh “phó” nhưng thơ anh đầy biến hóa, khinh thường thói đời hợm hĩnh, đậm đặc nhân văn. Tính từ lần xuất bản đầu tiên (năm 1968) đến nay anh đã có 6 tập thơ, bài nào cũng ngắn gọn, khúc triết làm say mê bạn đọc. Thơ anh hóm, sâu sắc, đầy trăn trở chuyện nhân tình thái thế và trịu nặng những nỗi niềm trắc ẩn. Thơ là người, nhưng người không phải là thơ. Cuộc đời anh nhiều vất vả, bươn chải, nhọc nhằn, nhưng anh không bận tâm, cái làm khổ anh, có thể làm anh chết đó là thơ. Thế đấy, Trời không cho ai tất cả. Tùng Bách nghèo về vật chất nhưng giàu về thơ. Thơ anh đã đi vào lòng bạn đọc, phần lớn từ nhà xuất bản “mồm” chuyền từ người này qua người khác. Vì thơ anh có một lối đi riêng không lẫn lộn vào ai, phần nhiều viết về thân phận của thập loại chủng sinh, khúc triết từ câu, tứ, hóm cười mà sắc, vui mà chảy nước mắt.
Nhưng ở tuổi này có tài, bất chấp danh vọng, sẵn sàng cởi áo từ quan để về quê đi cày. Xem ra Tùng Bách cũng đầy khí phách Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ. Nguyễn Du ngoài đời gặp hoạn quan cũng chào, nhưng trong thơ thì “ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Nguyễn Công Trứ có một lần được các quan kính nể mời lên mâm trên ăn thịt chó, tiên sinh nói “ Trên chó, dưới chó, ngồi chỗ mô cũng chó”, làm hết thảy tím mặt mà không làm gì được. Tùng Bách chưa làm quan bao giờ, có chăng mới chỉ là anh “phó” nhưng thơ anh đầy biến hóa, khinh thường thói đời hợm hĩnh, đậm đặc nhân văn. Tính từ lần xuất bản đầu tiên (năm 1968) đến nay anh đã có 6 tập thơ, bài nào cũng ngắn gọn, khúc triết làm say mê bạn đọc. Thơ anh hóm, sâu sắc, đầy trăn trở chuyện nhân tình thái thế và trịu nặng những nỗi niềm trắc ẩn. Thơ là người, nhưng người không phải là thơ. Cuộc đời anh nhiều vất vả, bươn chải, nhọc nhằn, nhưng anh không bận tâm, cái làm khổ anh, có thể làm anh chết đó là thơ. Thế đấy, Trời không cho ai tất cả. Tùng Bách nghèo về vật chất nhưng giàu về thơ. Thơ anh đã đi vào lòng bạn đọc, phần lớn từ nhà xuất bản “mồm” chuyền từ người này qua người khác. Vì thơ anh có một lối đi riêng không lẫn lộn vào ai, phần nhiều viết về thân phận của thập loại chủng sinh, khúc triết từ câu, tứ, hóm cười mà sắc, vui mà chảy nước mắt.
Cách
đây hàng chục năm tôi đã thuộc bài thơ “ Giây lát với Chí Phèo” qua
“xuất bản mồm” trong những cuộc giao lưu vỉa hè với bạn bè văn nghệ
sỹ xứ Nghệ. Ngay buổi đầu nghe nhà thơ Chu Vĩnh Phương, Trần Đức
Thạch đọc bài thơ trên của Tùng Bách tôi đã say mê mệt. Đêm về tôi
đọc thơ cả trong mơ… “ Nhân dân không là Chí. Nhưng Chí là nhân dân.
Chí- Phèo- Là- Nhân – Dân- Làng- Vũ – Đại”. Vợ tôi cầm tóc giật “Ông
! Ông ! ăn nằm với con mô mà dấu tôi”? Tôi tỉnh dậy ngơ ngác chưa biết
mô tê gì thì ả tấn công “ Ông tưởng nói lái “ Vũ Đại” là tôi không
biết gì ạ!”. Thì ra thế. Tôi phân trần cho ả nghe. Ả cười, tôi cười,
cả hai nước mắt nhòe nhoẹt. Cảm ơn “ Giây lát với Chí Phèo” đã cho
tôi một chút kỷ niệm suốt đời không quên với bà vợ đã mất 2004, vì
kỷ niệm đó mà mãi đến bây giờ tôi vẫn chung thủy. Không chỉ đọc
trong mơ, ngay cả với các quan trong những chuyến công tác, khi rượu
“ngọt rồi” tôi cũng đưa Chí Phèo ra đọc “ Trên cao xanh, dưới đất dày,
giữa nhí nhố một bầy. Dại gì không uống, tội gì không say”…Làm các
quan chạnh lòng, chuyển đề tài sang hát tình ca “ Khúc hát sông quê”
“Làng quan họ quê tôi” của nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo. Có kẻ lại hát
“Đường ra trận mùa này đẹp lắm, Trường sơn đông, nhớ trường sơn tây”.
Mạnh ai nấy hát, đọc thơ theo sở thích.
Mở đầu “Giây lát với Chí Phèo” nhà thơ Tùng Bách không né tránh, cắc bụp ngay “ Chí Phèo ạ! Chí Phèo chưởi không sao. Tớ mà vậy e chừng mặt vở. Quan có tha thì nha cũng bắt. Kiện cáo ư, ai đời cái kiến đi kiện củ khoai”. So với bài thơ “Nhân dân” của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo thì Tùng Bách có một lối đi riêng, bắt đầu đưa cái “tôi” cá thể để qua từng cung bậc nâng dần lên cái “ta”, ý tưởng lớn. Đọc từng câu chữ “ Chí… chưởi không sao, Tớ mà vậy…mặt vở, quan tha…nha bắt, Cái kiến…củ khoai” nghe ra như một lát trãi lòng, tâm sự, hóm mà đau, nhẹ mà trĩu buồn u uất Thế đó, thời nào quan, dân, bất công, ức hiếp, cướp bóc cũng để lại trong lòng nhà thơ bao trăn trở. Còn Nguyễn Trọng Tạo lại thẳng thừng qua một triết lý và nghịch lý “Có thể thay quan, không thay được nhân dân. Thay tên nước, không thay được Tổ quốc. Nhưng sự thật khó tin mà có thật. Không thể thay quan, dù quan đã thành sâu”. Trở lại “ Anh Chí Phèo” của Tùng Bách, khổ thơ tiếp theo “Trên cao xanh, dưới sâu dày. Giữa nhí nhố một bầy. Tội gì mà không uống. Dại gì mà không say”. “Cao xanh” là Trời, nghĩa bóng nữa thì tùy kẻ nào đó tự nhận lấy, nhưng “Dưới sâu dày” (không phải đất dày) mới thật tuyệt. Thơ là thế, đọc cái này người ta nghĩ đến cái kia. Chả thế mà Lê Qúy Đôn nói : Có ba loại người thẩm thấu thơ, người ở bề da, người bề thịt, người ở xương cốt. Và xương cốt là đỉnh cao của thi nhân.
Thơ của Tùng Bách dần dần hiện lên ý tưởng, hồn cốt, xương tủy “ Chí say, Chí chưởi tối ngày. Đau đầu Bá Hộ, rác tai xóm làng. Chí chưởi ra rượu uống, cơm ăn, ra vườn cây ao cá. Muôn năm cái nghề cạo mặt ăn vạ. Chỉ lo phí rượu, không lo phí đời”. “Chí Phèo làng Vũ Đại” là tác phẩm lớn của nhà văn Nam Cao, đây là tác phẩm văn học hiện thực phê phán một chế độ phong kiến thối nát, chỉ biết lo vun vén cho đầy túi tham, đẩy người dân lành vào con đường khốn khổ, bần cùng. Chí Phèo là hiện diện của tầng lớp đói khổ, cơ hàn, muốn lương thiện mà không được, đành phải liều, phải khùng. Rùng rợn và đau xót quá khi Chí phải mượn rượu, chọn nghề độc đắc vô nhị cạo mặt ăn vạ, để có cơm ăn, để tồn tại như một bản năng. Rượu say Chí không biết đau khi rạch mặt, Chí bất chấp cả cái chết nên các quan Bá Kiến, Bá Hộ phải sợ thằng khùng. Để được tồn tại Chí phải trả giá quá lớn về thân xác, tinh thần. Nhưng các quan tham giàu sụ lên, sống trong sơn hào hải vị, vợ bé vợ lớn, kẻ ăn, kẻ ở đầy nhà lại không phải làm gì hết. Bài thơ “ Giay lát với Chí Phèo” qua từng cung bậc đã được đẩy lên một điểm cao mới, tầng tầng, lớp lớp, với câu từ rất dân gian, nhưng đầy cảm xúc liên tưởng. “Tiên nhân cái thằng chỉ biết ăn xôi, không hề chịu đấm”. Chí phèo chưởi thằng nào? hay nhà thơ chưởi, có thể cả hai, và cao hơn nữa đó là nhân dân, tầng lớp bị áp bức, và thằng bị chưởi chắc chắn là thằng quan. Mấy câu sau thật hay, hay vì lật ngược, lật xuôi đều đúng, đều trúng “ Nhân dân không là Chí. Nhưng Chí là nhân dân. Chí – Phèo- Là- Nhân- Dân- Làng- Vũ- Đại”. Và rồi phần kết của bài thơ nghe đến gai góc, rờn rờn, nhưng nâng lên một khái quát lớn tính nhân văn và trách nhiệm.
Tuy vẫn giọng điệu của anh Chí say nhè, nhưng nhà thơ rất tỉnh táo nâng tầm bài thơ cao hơn qua mấy câu kết (không thể khác) dù sau này đã phải chữa lại cho nhẹ đi. Qua điện thoại, Tùng Bách cũng nhận ra điều này, có chuyện là do bị sức ép nào thì nhà thơ không nói.
Mở đầu “Giây lát với Chí Phèo” nhà thơ Tùng Bách không né tránh, cắc bụp ngay “ Chí Phèo ạ! Chí Phèo chưởi không sao. Tớ mà vậy e chừng mặt vở. Quan có tha thì nha cũng bắt. Kiện cáo ư, ai đời cái kiến đi kiện củ khoai”. So với bài thơ “Nhân dân” của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo thì Tùng Bách có một lối đi riêng, bắt đầu đưa cái “tôi” cá thể để qua từng cung bậc nâng dần lên cái “ta”, ý tưởng lớn. Đọc từng câu chữ “ Chí… chưởi không sao, Tớ mà vậy…mặt vở, quan tha…nha bắt, Cái kiến…củ khoai” nghe ra như một lát trãi lòng, tâm sự, hóm mà đau, nhẹ mà trĩu buồn u uất Thế đó, thời nào quan, dân, bất công, ức hiếp, cướp bóc cũng để lại trong lòng nhà thơ bao trăn trở. Còn Nguyễn Trọng Tạo lại thẳng thừng qua một triết lý và nghịch lý “Có thể thay quan, không thay được nhân dân. Thay tên nước, không thay được Tổ quốc. Nhưng sự thật khó tin mà có thật. Không thể thay quan, dù quan đã thành sâu”. Trở lại “ Anh Chí Phèo” của Tùng Bách, khổ thơ tiếp theo “Trên cao xanh, dưới sâu dày. Giữa nhí nhố một bầy. Tội gì mà không uống. Dại gì mà không say”. “Cao xanh” là Trời, nghĩa bóng nữa thì tùy kẻ nào đó tự nhận lấy, nhưng “Dưới sâu dày” (không phải đất dày) mới thật tuyệt. Thơ là thế, đọc cái này người ta nghĩ đến cái kia. Chả thế mà Lê Qúy Đôn nói : Có ba loại người thẩm thấu thơ, người ở bề da, người bề thịt, người ở xương cốt. Và xương cốt là đỉnh cao của thi nhân.
Thơ của Tùng Bách dần dần hiện lên ý tưởng, hồn cốt, xương tủy “ Chí say, Chí chưởi tối ngày. Đau đầu Bá Hộ, rác tai xóm làng. Chí chưởi ra rượu uống, cơm ăn, ra vườn cây ao cá. Muôn năm cái nghề cạo mặt ăn vạ. Chỉ lo phí rượu, không lo phí đời”. “Chí Phèo làng Vũ Đại” là tác phẩm lớn của nhà văn Nam Cao, đây là tác phẩm văn học hiện thực phê phán một chế độ phong kiến thối nát, chỉ biết lo vun vén cho đầy túi tham, đẩy người dân lành vào con đường khốn khổ, bần cùng. Chí Phèo là hiện diện của tầng lớp đói khổ, cơ hàn, muốn lương thiện mà không được, đành phải liều, phải khùng. Rùng rợn và đau xót quá khi Chí phải mượn rượu, chọn nghề độc đắc vô nhị cạo mặt ăn vạ, để có cơm ăn, để tồn tại như một bản năng. Rượu say Chí không biết đau khi rạch mặt, Chí bất chấp cả cái chết nên các quan Bá Kiến, Bá Hộ phải sợ thằng khùng. Để được tồn tại Chí phải trả giá quá lớn về thân xác, tinh thần. Nhưng các quan tham giàu sụ lên, sống trong sơn hào hải vị, vợ bé vợ lớn, kẻ ăn, kẻ ở đầy nhà lại không phải làm gì hết. Bài thơ “ Giay lát với Chí Phèo” qua từng cung bậc đã được đẩy lên một điểm cao mới, tầng tầng, lớp lớp, với câu từ rất dân gian, nhưng đầy cảm xúc liên tưởng. “Tiên nhân cái thằng chỉ biết ăn xôi, không hề chịu đấm”. Chí phèo chưởi thằng nào? hay nhà thơ chưởi, có thể cả hai, và cao hơn nữa đó là nhân dân, tầng lớp bị áp bức, và thằng bị chưởi chắc chắn là thằng quan. Mấy câu sau thật hay, hay vì lật ngược, lật xuôi đều đúng, đều trúng “ Nhân dân không là Chí. Nhưng Chí là nhân dân. Chí – Phèo- Là- Nhân- Dân- Làng- Vũ- Đại”. Và rồi phần kết của bài thơ nghe đến gai góc, rờn rờn, nhưng nâng lên một khái quát lớn tính nhân văn và trách nhiệm.
Tuy vẫn giọng điệu của anh Chí say nhè, nhưng nhà thơ rất tỉnh táo nâng tầm bài thơ cao hơn qua mấy câu kết (không thể khác) dù sau này đã phải chữa lại cho nhẹ đi. Qua điện thoại, Tùng Bách cũng nhận ra điều này, có chuyện là do bị sức ép nào thì nhà thơ không nói.
“
Đểu với đây thì đây đểu lại. Tưởng đây thích sống lắm à? Bao giờ dân
nổi can qua…bao giờ?”Nghe nói dạo còn làm biên tập ở Hội văn nghệ
Vũng Tàu nhà thơ Tùng Bách bị “đánh tơi tả” vì bài bài thơ này, ai
đánh chắc không phải tìm hiểu cũng biết, vì giới văn nghệ đều quí
trọng nhà thơ xứ Nghệ này lắm, rất nhiều bạn bè gọi anh là sư phụ
của thơ. Có lẽ đến chết tôi cũng không quên được cái tài hoa có một
không hai của ông Phan Sào Nam quê Thanh Chương. Giai thoại kể rằng : Phan
tiên sinh thi về bị trượt, không đi đường thẳng, mà đi tắt qua mấy
cánh đồng. Có mấy cô thôn nữ đang trỉa ngô, thấy tiên sinh nho nhã
liền ra câu đố trêu chọc “ Đưa chàng mấy hột ngô rang. Chàng đúc vô mô
cho mọc, thiếp theo chàng từ đây”. Vế đối đầy hóc búa có lẽ Trời
cũng vái, vì ngô rang chín thì đúc làm sao mọc cây được. Thấy đối
phương vỗ trán, mặt nhăn nhó, mấy ả trỉa ngô bíu nhau cười chờ Tiên
sinh vái thua. Bất ngờ cụ Phan tìm thấy bí ẩn của từ “đúc” (không
phải trỉa) đầy nghịch ngợm, đến gần mấy ả chỉ chỉ xuống mấm (váy)
một cô đối ngay “ Nơi nào mà nắng không khô, mà mưa không tới, đúc vô
mọc liền”. Thật là tuyệt, tuyệt hơn cả Đế Thích giải nước cờ bí.
Nhắc lại giai thoại đó để nói rằng thơ của Tùng Bách cũng có những
lúc biến hóa khôn lường, làm người đọc từ nín thở rồi vỡ òa cười
cùng nước mắt.
Khác
với bài thơ “Nhân dân” của Nguyễn Trọng Tạo, chưa bị ai “hỏi thăm”.
Ngay sau khi bài thơ tung lên mạng, hàng trăm vị đại biểu Quốc hội xin
in ra chuyền nhau đọc. Mặc dù “ Nhân dân” rất oai hùng, không né tránh,
không mượn nhân vật nào để dẫn ý tưởng ngoài “ Đêm nằm mơ…và tôi
tỉnh dậy”. Ngay câu từ của “ Nhân dân” cũng rất mãnh liệt “ Ôi ! những
ông quan không dân trên chót vót đỉnh trời. Có nghe tôi đang kêu gào
dưới đáy. Cả một tỷ tôi sao ông không thấy. Vì tôi vẫn là người, còn
ông đã thành sâu”. Bốn câu kết này nhà thơ đã dùng chữ “tôi” đại
diện cho nhân dân, bằng nghệ thuật danh từ, động từ tách biệt, không
thể hòa nhập “ Chót vót đỉnh trời…dưới đáy…sâu, người, tôi, ông quan”.
Còn “ Giây lát với Chí Phèo” của Tùng Bách tuy lấy Chí ra để trải
lòng, trăn trở, nhưng cả hai nhà thơ đều về tới đích : Vì nhân dân
phục vụ, vì sự công bằng dân chủ. Đất nước đây đó đang xẩy ra nhiễu
sự, quốc nạn tham nhũng len vào từng ngõ ngách, nền kinh tế thâm
thủng, biển Đông đang bị cướp, dân oan đang “Đi lũ lượt, đi tràn ra đại
lộ…Đi qua những hàng rào, đi qua những đoàn xe…Đi đòi lại niềm tin,
lẽ sống ở đời. Đi đòi lại những ông quan thanh đã chết tự lâu
rồi”…Mỗi người dân Việt đều thể hiện lòng yêu nước bằng những hành
động. Nhà thơ, nhà văn cũng biết xung phong “Chở đạo bao nhiêu thuyền
chẳng khẳm. Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Thế sự nào thì thơ,
văn vậy. Cả đời làm thơ, chỉ cần một bài, hoặc vài ba câu neo lại
cùng thời gian, sống mãi trong lòng bạn đọc đã là hạnh phúc lắm.
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, Tùng Bách có rất nhiều bài như thế mà hai
bài thơ trên chỉ là ví dụ. Dưới bạn đọc của cả nước đang mong lắm,
với tài ba trời phú của hai nhà thơ nói riêng sẽ có nhiều bài khác
nóng bỏng tính thời sự.
Hồ Hồng Tuyến


RSS Feed
Facebook
Twitter
0 comments:
Đăng nhận xét