Theo tin từ gia đình ông Đoàn Văn Vươn, trong phiên tòa phúc
thẩm xử vụ cưỡng chiếm tài sản đất đai của gia đình nông dân Đoàn Văn Vươn ở Tiên
Lãng, Hải Phòng sẽ diễn ra trong thời gian tới đây, ngoài Ls. Trần Đình Triển
và VP Luật sư Vì Dân của ông đã được mời bào chữa và bảo vệ quyền và lợi ích
cho gia đình nạn nhân, các chị Nguyễn Thị Thương (vợ anh Đoàn Văn Vươn) và Phạm
Thị Báu (Hiền, vợ anh Đoàn Văn Quý) cũng đã mời ông Vũ Văn Luân, Thư ký Liên
chi hội Nuôi trồng thủy sản nước lợ huyện Tiên Lãng, làm người bào chữa cho tất
cả các thành viên của gia đình trong phiên tòa phúc thẩm này.
Đúng theo Điều 56 Bộ luật Tố tụng Hình sự, có quy định về
Người bào chữa "có thể là: a) Luật sư; b) Người đại diện hợp pháp của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo; c) Bào chữa viên nhân dân...", và "trong
thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy
tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải
xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa...."
Trong quá khứ từ trước đến nay, nhà cầm quyền đã viện nhiều
lý do từ chối vai trò "Người đại diện hợp pháp" và "Bào chữa
viên nhân dân" trong các phiên xử. Lần này, nếu được chấp thuận, có lẽ ông
Vũ Văn Luân là người đầu tiên trong lịch sử tố tụng hình sự bào chữa cho các bị
cáo với vai trò “Người đại diện theo pháp luật” như Bộ luật TTHS quy định.
Tuy nhiên, tin mới nhất cho biết Toà phúc thẩm - Toà án Tối cao - hôm 25-6 vừa qua
đã gửi thư thông báo cho gia đình họ Đoàn cho biết họ từ chối "không cấp
giấy chứng nhận cho người bào chữa” như đơn yêu cầu của gia đình.
Trước quyết định trái pháp luật trên theo quy định của Nhà nước của tòa phúc
thẩm, hôm 28-6 chị Nguyễn Thị Thương và chị Phạm Thị Báu đã cùng ký đơn khiếu nại
gửi tới Chánh toà phúc thẩm Toà án nhân dân Tối cao tại Hà Nội yêu cầu hủy bỏ 2
công văn trái luật và cấp giấy chứng nhận để ông Vũ Văn Luân được quyền bào chữa
cho cá nhân 2 chị cùng chồng trong phiên toà tới đây.
Nguyên văn đơn khiếu nại:
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh
phúc
ĐƠN KHIẾU NẠI
“V/v Toà phúc thẩm
Toà án Tối cao không cấp giấy chứng nhận cho người bào chữa”
Kính gửi ông: Chánh toà phúc thẩm Toà án nhân dân Tối cao.
Chúng tôi
là: Nguyễn Thị Thương, Phạm Thị Báu( tức Hiền)
Địa chỉ: Thuý Nẻo - Bắc
Hưng – Tiên Lãng - Hải Phòng, là bị cáo trong vụ án “giết người, chống người
thi hành công vụ” vừa bị Toà án nhân dân Hải Phòng xét xử ngày 5/4/2013 cùng
làm đơn khiếu nại về công văn số 1436, 1437 ngày 25/06/2013 của Toà phúc thẩm
Toà án nhân dân Tối cao (V/v từ chối cấp giấy chứng nhận người bào chữa ) .
Đồng thời kính đề nghị ông ban hành Quyết định bãi bỏ hai công văn trên, cấp giấy
chứng nhận bào chữa cho ông Vũ Văn Luân để ông Luân thực hiện việc bào chữa
cho chúng tôi, bồi thường thiệt hại cho chị em tôi, xem xét xử lí kỷ luật với tất
cả tập thể, cá nhân liên quan đến viếc ban hành văn bản trái pháp luật
trên theo quy định của Nhà nước vì lý do sau đây.
Lý do thứ nhất:
Vi phạm Điểm e Khoản 2
Điều 50 Luật Tố tụng hình sự
Tại Điểm e Khoản 2 Luật
tố tụng hình sự Nhà nước quy định như sau
2 - Bị cáo
có quyền:
e - Tự bào chữa
hoặc nhờ người khác bào chữa
Như vậy, việc chị em tôi có đơn nhờ ông Vũ Văn Luân là người bào chữa cho chúng
tôi và chồng chúng tôi với tư cách người đại diện hợp pháp là hoàn toàn chính
đáng, quyền đó của chúng tôi được Nhà nước thừa nhận tại Điểm e Khoản 2
Điều 50 Luật Tố tụng hình sự là điều không phải tranh cãi như chị em tôi đã biện
dẫn ở trên. Do đó, tại công văn số 1436, 1437 có căn cứ vào Điều 50 Luật Tố tụng
Hình sự từ chối không cấp giấy chứng nhận bào chữa cho ông Vũ Văn Luân mà chị
em tôi đã lựa chọn là việc làm hoàn toàn trái pháp luật, tước đi quyền được mời
người bào chữa mà Nhà nước và pháp luật cho phép.
Lí do thứ hai
Vi phạm Điều 56 Luật Tố
tụng hình sự.
Điều 56 Luật Tố tụng
Hình sự có ghi: “Điều 56: Người bào chữa:
1- Người bào chữa
có thể là:
a- Luật sư.
b- Người đại diện hợp
pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
c- Bào chữa viên nhân
dân.
2, Những
người sau đây không được bào chữa:
a- Người đã tiến
hành tố tụng trong vụ án đó, người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành
tố tụng trong vụ án đó.
b- Người tham gia
trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, giám định hoặc người phiên dịch.
Như vậy, tại đơn mời người bào chữa cho chị em tôi. Chúng tôi mời ông Vũ
Văn Luân có địa chỉ: Xóm 9 – Hùng Thắng – Tiên Lãng - Hải Phòng bào chữa cho chị
em tôi với tư cách người đại diện hợp pháp theo điểm b khoản 1 Điều 56 Luật tố
tụng Hình sự là hoàn toàn hợp pháp . Đồng thời với điều kiện Tại khoản 2 Điều
56 Luật Tố tụng Hình sự như chị em tôi trích dẫn ở trên thì ông Vũ Văn Luân
không rơi vào một trong 2 điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật tố tụng
Hình sự. Do đó, ông Vũ Văn Luân hoàn toàn có đủ tư cách là người bào chữa cho
chị em tôi theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 56 Luật Tố tụng Hình sự mà chị
em tôi lựa chọn.
Việc
Toà phúc thẩm Toà án nhân dân Tối cao trong công văn số 1436, 1437 căn cứ vào
Điều 56 Luật Tố tụng Hình sự không cấp giấy chứng nhận bào chữa cho ông Vũ Văn
Luân để bào chữa cho chị em tôi là hoàn toàn bất hợp pháp như tôi đã chứng minh
ở trên.
Lí do thứ ba
Vi phạm Nghị Quyết số
03/2004 ngày 02/10/2004, Nghị quyết số 05/ 2005 ngày 08/12/2005 của HĐTPTANDTC:
a- Vi phạm nghị quyết số 03/2004 của
HĐTPTANDTC
Tại Điểm b Tiết 2 phần
II Về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo có ghi
b - Đối với bị
can, bị cáo là người đủ 18 tuổi trở lên, không có nhược điểm về tâm thần hoăc
thể chất, thì chỉ có họ mới có quyền lựa chọn người bào chữa: do đó, trong trường
hợp người thân thích của họ hoặc người khác lựa chọn (nhờ) người bào chữa cho họ,
thì cần phân biệt như sau:
b.1- Nếu việc lựa chọn
(nhờ) người bào chữa đã có sự đồng ý (hoặc sự uỷ quyền) của bị can, bị
cáo thì Toà án xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện
việc bào chữa.
Như vậy, căn cứ vào quy định này của HĐTPTANDTC
thì chị em tôi đã trên 18 tuổi không có nhược điểm tâm thần, thể chất do đó chị
em tôi có quyền lựa chọn người bào chữa cho chị em tôi và chồng chúng tôi là
hoàn toàn chính đáng được pháp luật cho phép.
Căn cứ vào điểm b.1 việc chúng tôi lựa chọn
ông Vũ Văn Luân cho chúng tôi và chồng chúng tôi nhưng không được Toà phúc thẩm
Toà án tối cao chấp nhận là hoàn toàn bất hợp pháp vi phạm nghiêm trọng Nghị
quyết số 03/2004 của HĐTPTANTC mà tôi đã trích dẫn ở trên. Do đó việc Toà phúc
thẩm Toà án tối cao căn cứ vào Nghị quyết số 03/2004 không cấp giấy chứng nhận
báo chữa cho ông Vũ văn Luân để ông Luân bào chữa cho chúng tôi và
chồng chúng tôi là hoàn trái pháp luật.
b- Vi phạm Nghị
quyết số 05 ngày 08/12/2005 của HĐTPTANDTC:
1 - Về điều
231 của BLTTHS ( có ghi)
Chủ thể có quyền kháng
cáo và giới hạn của việc kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm được xác định
như sau:
1.1 Bị cáo, người đại
diện hợp pháp(đại diện theo pháp luật)cuả bị cáo là người chưa thành niên, người
có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ bản án
hoặc quyết định sơ thẩm.
1.2
- Người bào chữa cho bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về
tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo để
bảo vệ lợi ích cho bị cáo.
Như vậy với các trích dẫn trên đây, HĐTPTANDTC quy định rất rõ về quyền
kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị cáo là người
chưa thành niên, người có nhược điểm tâm thần hoặc thể chất, chứ không phải
như công văn số 1436, 1437 cho rằng (chỉ có các trường hợp bị cáo là người chưa
thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần mới có người đại diện
hợp pháp (đại diện theo pháp luật) tham gia tố tụng là hoàn toàn bất hợp pháp
tiếp tục tước đi quyền được mời người bào chữa của chị em tôi mà Nhà nước đã
quy định.
Tại Nghị quyết này tôi khẳng định không có bất kỳ điều nào quy định trường hợp
chị em tôi không được mời người đại diện hợp pháp để bào chữa cho chị em tôi .
Do đó việc Toà phúc thẩm Toà án Tối cao căn cứ Nghị quyết số 03/2004, Nghị
quyết số 05/2005 của HĐTPTANDTC từ chối không cấp giấy chứng nhận người bào chữa
cho ông Vũ Văn Luân bào chữa cho chị em tôi và chồng chúng tôi là Đoàn Văn Vươn
, Đoàn Văn Quý là hoàn toàn bất hợp pháp, cố tình tước đi quyền được mời người
bào chữa cho gia đình chúng tôi, việc làm đó theo tôi là hoàn toàn trái pháp luật
vi phạm đạo đức xã hội và pháp luật một cách nghiêm trọng.
Như vậy với tất cấ các lý
do trên, so chiếu với căn cứ mà Toà phúc thẩm Toà án tối cao đưa ra thì: Tại Điều
50, 56 Luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 03/2004, số 05/2005 của HĐTPTANDTC
không có bất kỳ điểm nào cho phép Toà phúc thẩm, Toà án Tối cao từ chối ông Vũ
Văn Luân không được quyền bào chữa cho chị em tôi và chồng chúng tôi . Do đó
căn cứ vào Luật Khiếu nại, chị em tôi làm đơn này kính đề nghị ông:
1 - Thụ lý đơn khiếu nại của chị em tôi, ra Quyết định thu hồi bãi bỏ
công văn số 1436, 1437 ngày 25/06/2013 của Toà phúc thẩm Toà án Nhân dân Tối
cao.
2- Cấp giấy chứng nhận bào chữa cho ông Vũ Văn Luân để ông Vũ Văn Luân được quyền
bào chữa cho chị em tôi và chồng chúng tôi trong phiên toà tới đây.
3 – Xem xét, xử lý kỷ luật với tất cả các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc
ban hành công văn trái pháp luật trên theo quy định của pháp luật và yêu cầu họ
phải chịu trách nhiệm về việc không cấp giấy chứng nhận bào chữa cho người bào
chữa để họ thực hiện việc bào chữa cho chị em tôi và chồng chúng tôi trong
phiên toà tới đây!
4 – Bồi thường toàn bộ thiệt hại cho chị em tôi và ông Vũ Văn Luân mà Toà phúc
thẩm đã gây ra cho chúng tôi theo quy định của Nhà nước.
Chúng
tôi xin trân trọng cảm ơn!
Nơi nhận:
- Như kính gửi.
- Các cơ quan báo chí.
- Lưu.
|
Bắc Hưng, ngày 28/6/2013
Người
làm đơn
Nguyễn
Thị Thương, Phạm Thị Hiền
|




RSS Feed
Facebook
Twitter
0 comments:
Đăng nhận xét