Trịnh Quốc Nghĩa
Tiến sĩ địa kỹ thuật công
trình
Viện Nghiên Cứu SINTEF,
Vương Quốc Na Uy
Thời gian gần đây, hiện tượng động đất liên tục xảy ra tại khu vực công trình thủy điện Sông Tranh 2 thu hút rất nhiều sự chú ý của công luận cũng như giới truyền thông. Hiện tượng này đã gây hư hại nhiều công trình nhà cửa, khiến cho nhân dân và các cấp chính quyền địa phương hết sức lo lắng. Đã có nhiều hộ gia đình rời khỏi khu vực tái định cư gần công trình để sang nơi khác ở, nhằm đảm bảo an toàn.
Với ảnh hưởng lớn như vậy, thì việc có một cái
nhìn sâu hơn về bản chất của hiện tượng động đất trong khu vực công trình thủy
điện Sông Tranh 2 là rất cần thiết. Những hiểu biết đúng đắn về vấn đề này có
thể giúp cho các cơ quan hữu quan có một thái độ bình tĩnh hơn và có thể đề ra
các biện pháp phù hợp cho công tác xử lý sự cố công trình.
Trước hết, cần phải khẳng định rằng hiện tượng
động đất kích thích liên quan đến các hồ chứa tương tự như đã xảy ra tại công
trình thủy điện Sông Tranh 2 không phải là hiện tượng mới. Trên thế giới đã có
rất nhiều khu vực xảy ra hiện tượng động đất sau khi hoàn thành và tích nước
các công trình hồ chứa. Vì vậy rất nhiều kết quả nghiên cứu về hiện tượng này
đã được thống kê. Theo nghiên cứu của tác giả Harh K. Gupta thì cho tới năm
2002, có khoảng hơn 90 hồ chứa trên thế giới đã xảy ra hiện tượng động đất khi
tích nước. Bản đồ của một số khu vực có động đất do hồ chứa cũng đã được tổ
chức "Sông ngòi thế giới" cập nhật (xem trong tài liệu tham khảo số 2
của bài báo này).
Trong hầu hết các kết quả
nghiên cứu về hiện tượng động đất do hồ chứa đều có chung kết luận: rằng hiện
tượng động đất xảy ra khi các hồ chứa làm thay đổi áp lực nước trong lòng đất
với mức độ đủ để các cấu trúc địa chất dịch chuyển và sự chuyển dịch này gây
nên động đất ở các cấp độ khác nhau. Điển hình của lý thuyết này được trình bày
trong báo cáo của tác giả Peter M. James trong công trình được công bố với tựa
đề "Cơ chế của động đất do hồ chứa" (xem trong trong mục tài liệu
tham khảo số 3 của bài báo này).
Vậy tại sao nước trong các
hồ chứa lại làm cho các cấu trúc địa chất trở nên dễ dịch chuyển hơn?
Để có thể dễ hình dung về hiện tượng này và lý
giải bằng ngôn ngữ phổ thông, ta có thể đơn giản hóa và xem xét một ví dụ thông
thường mà bất cứ ai cũng có thể thử nghiệm được. Đó là việc mang một tảng đá
nặng trong nước sẽ dễ dàng hơn so với việc mang cùng tảng đá đó trên cạn. Bởi
lẽ, khi ở trong nước, tảng đá đó chịu tác động của áp lực đẩy nổi của nước và
nó trở nên ”nhẹ” hơn.
Tương tự như vậy, khi các hồ chứa xuất hiện và
tích nước, nước hồ thấm sâu vào lòng đất đến một mức độ đủ để làm "giảm
nhẹ" một khu vực cấu trúc địa chất đủ lớn thì cấu trúc địa chất đó bắt dầu
dịch chuyển và gây ra các hiện tượng rung động địa chất ("chấn động địa
chất" hay còn gọi là "động đất") có thể cảm nhận được. Độ lớn
của các chấn động này phụ thuộc vào khối lượng của cấu trúc địa chất cũng như
mức độ dịch chuyển của nó. Nói như vậy để nhấn mạnh rằng khi bắt đầu tích nước
là đã có thể có tác động dịch chuyển. Tuy nhiên, do ban đầu nước chưa thấm sâu
vào đất nên vùng ảnh hưởng của nó còn nhỏ, khối lượng cấu trúc địa chất và độ
dịch chuyển nhỏ. Do vậy, các chấn động mà nó gây là nhỏ không đáng kể nên chúng
ta không cảm nhận được.
Trở lại với công trình thủy điện Sông Tranh 2,
hiện tượng động đất tại đây sẽ được làm sáng tỏ hơn nếu ta sử dụng các phân
tích đã nêu ở trên cùng với các số liệu quan trắc tại hiện trường. Số liệu được
cung cấp bao gồm diễn biến mực nước hồ từ ngày 1/1/011 đến ngày 6/9/2012 và
diễn biến động đất trong khoảng thời gian này. Các số liệu này được thể hiện
như trong Hình 1. Trong đó, đường liền nét màu nâu đỏ là diễn biến mực nước hồ
và các chấm tròn màu xanh là sự kiện động đất đo đạc được.
Hình 1: Chuỗi quan trắc mực nước hồ và hiện
tượng động đất tại thủy điện Sông Tranh 2
(Mô tả cấp động đất như trình bày trong Bảng 1).
Nhìn vào các số liệu quan trắc có thể rút ra một
số nhận xét sau:
1. Chuỗi sự kiện động đất chia làm 2 nhóm rõ
rệt:
- Nhóm 1 xuất hiện khoảng từ ngày 23/11/2011 đến
ngày 26/4/2012 (kéo dài trong vòng 125 đến 150 ngày). Nhóm này xuất hiện sau
khoảng 5 tháng so với thời điểm bắt đầu tích nước hồ.
- Nhóm 2 xuất hiện từ ngày 29/8/2012 đến nay
(27/9/2012). Nhóm này xuất hiện sau khoảng 5 tháng so với thời điểm bắt đầu rút
nước hồ.
2. Với những phân tích về mối liên quan giữa sự
thay đổi áp lực nước trong lòng đất và sự rung động địa chất như đã nêu ở trên,
thì rất có thể 2 nhóm sự kiện động đất này liên quan trực tiếp đến 2 quá trình
dâng và hạ mực nước hồ.
3. Như vậy có thể tạm rút ra 2 quy luật sau:
- Nếu có sự thay đổi mực nước hồ đủ lớn thì sẽ
xuất hiện động đất và động đất sẽ xuất hiện sau khoảng 5 tháng so với thời điểm
bắt đầu có sự thay đổi mực nước hồ đó.
- Khi có xuất hiện một chuỗi động đất thì thời
lượng của chuỗi rung chấn như vậy sẽ kéo dài khoảng 125 đến 150 ngày.
Và như vậy, hiện tượng động
đất tại công trình thủy điện Sông Tranh 2 có thể được làm sáng tỏ như sau:
1. Hồ chứa bắt đầu tích nước từ ngày 26/7/2011
đến khoảng ngày 26/10/2011 thì hồ đầy nước. Kể từ ngày hồ bắt đầu tích nước thì
cũng là ngày nước bắt đầu thâm nhập vào trong lòng đất. Sự thâm nhập của nước
gây ra những biến động đáng kể về áp lực trong lòng đất như đã nêu ở trên. Quá
trình này diễn biến nhanh hay chậm hoàn toàn phụ thuộc vào tốc độ thâm nhập của
nước (hệ số thấm). Ở công trình thủy điện Sông Tranh 2, quá trình này mất
khoảng 5 tháng. Thông số này được khẳng định lại một lần nữa khi hiện tượng
động đất nhóm 2 xuất hiện sau thời điểm bắt đầu rút nước hồ cũng vào khoảng 5
tháng. Cần lưu ý rằng, khi rút nước hồ thì nước trong lòng đất lại thoát ra dẫn
đến áp lực nước ngầm giảm và các cấu trúc địa chất lại có xu hướng dịch chuyển
trở về trật tự cân bằng trước đó.
2. Vậy tại sao cường độ động đất lại khác nhau
trong 2 quá trình tích và rút nước hồ? Như đã đề cập, mức độ động đất phụ thuộc
vào phạm vi, mức độ thay đổi áp lực nước trong lòng đất. Tốc độ thay đổi mực
nước hồ trong 2 quá trình tích và rút nước là gần như nhau. Tuy nhiên, trước
thời điểm tích nước hồ, đã xuất hiện lũ làm mực nước trong hồ giữ ở cao trình
khoảng 160 m trong vòng 4 tháng. Sau đó là thời đoạn nước rút trước khi nước
dâng trở lại. Tuy nhiên thời gian nước rút chưa đủ dài để làm thay đổi triệt để
trạng thái áp lực nước trong lòng đất. Như vậy nếu cộng tác động của cơn lũ này
thì tốc độ tích nước hồ chỉ là 15 đến 20 m trong vòng 100 ngày (ước tính tốc độ
dâng nước là khoảng 0.2 m/ngày). Sau đó, quá trình rút nước từ cao trình 175 m
đến cao trình mực nước chết 140 m cũng mất khoảng 100 ngày (ước tính tốc độ rút
nước khoảng 0.35 m/ngày). Rất có thể tốc độ rút nước nhanh hơn này đã gây ra
động đất với cường độ mạnh hơn.
Từ biểu đồ quan trắc và
những phân tích trên, có thể dựng lại diễn biến động đất tại công trình thủy
điện Sông Tranh như sau:
1. Sau khi công trình hoàn thành và bắt đầu tích
nước vận hành, nước trong hồ thâm nhập vào lòng đất gây nên sự thay đổi áp lực.
Quá trình từ lúc nước thâm nhập đến khi nó đạt đủ độ lớn cần thiết mất khoảng 5
tháng. Vì vậy mà sau 5 tháng kể từ thời điểm bắt đầu tích nước thì bắt đầu có
hiện tượng động đất.
2. Nếu giữ ổn định mực nước hồ thì hiện tượng
động đất sẽ kết thúc trong vòng khoảng 125 ngày. Tuy nhiên, do lo lắng cho sự
an toàn của nhân dân địa phương cũng như của công trình và để giải quyết sự cố
rò rỉ nước nên quyết định tháo nước hồ đã được đưa ra. Quá trình tháo nước hồ
lại tiếp tục gây ra nhóm sự kiện động đất tiếp theo. Do tốc độ rút nước lần này
nhanh hơn nên cường độ của nhóm động đất số 2 cũng lớn hơn.
3. Nếu quan sát kỹ sẽ thấy rằng khoảng lặng giữa
2 nhóm động đất (hơn 100 ngày) cũng bằng với thời gian mà mực nước hồ ổn định ở
mức 175 m. Như vậy, xảy ra động đất là do tác động của quá trình thay đổi mực
nước chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào mực nước ổn định cao hay thấp. Giả sử hồ
cứ giữ nguyên mực nước ở cao trình 175 m sau ngày 23/2/2012 thì hiện tượng động
đất cũng rất có thể sẽ tắt sau ngày 26/4/2012.
Vậy điều gì có thể rút ra
để ước đoán những diễn biến trong tương lai cũng như kiến nghị các giải pháp
hợp lý?
1. Theo quyết định của Chính phủ thì sẽ tạm thời
chưa tích nước hồ chứa Sông Tranh 2. Như vậy mực nước hồ sẽ giữ ổn định ở cao
trình 140 m trong 1 khoảng thời gian dài nữa. Như kết quả đã quan trắc, nếu mực
nước hồ ổn định thì hiện tượng động đất sẽ kéo dài trong khoảng từ 125 đến 150
ngày (bằng số ngày diễn ra nhóm động đất số 1). Giả sử quyết định của Chính phủ
được thi hành và không có biến động mực nước hồ trong thời gian rất dài thì
hiện tượng động đất rất có khả năng sẽ còn tiếp tục trong thời điểm hiện tại và
tắt dần sau 125 đến 150 ngày kể từ ngày 29/8/2012, nghĩa là hiện tượng này sẽ
mất dần kể từ sau ngày 1/1/2013 hoặc 26/1/2013.
2. Tuy nhiên mực nước trong hồ sẽ bị thay đổi
khi có lũ về. Thông thường, lũ tại khu vực này xuất hiện vào tháng khoảng giữa
tháng 10/2012. Theo Ban quản lý dự án thì trong quá trình lũ, mực nước hồ sẽ bị
đẩy lên đến cao trình khoảng 160 m trong 1 khoảng thời gian nhất định (tùy theo
cường độ lũ). Câu hỏi tiếp theo là sự thay đổi mực nước này có gây ra động đất
không? Câu trả lời có lẽ đã được đưa ra ở cơn lũ trước khi tích nước hồ chứa.
Theo tài liệu quan trắc thì tháng 2 năm 2011 đã có cơn lũ làm mực nước hồ cũng
dâng lên cao trình 160 m, tuy nhiên chuỗi quan trắc động đất thì không ghi nhận
số liệu động đất liên quan đến đợt lũ này. Như vậy, nếu trong thời gian có cơn
lũ tháng 10/2012 mà có xuất hiện động đất, thì tất cả các chấn động đó (xảy ra
trước tháng 1/2013) là chấn động nằm trong chuỗi động đất số 2 liên quan đến
quá trình rút nước đã nêu. Nếu như cơn lũ tháng 10/2012 có gây động đất, thì
các chấn động (nếu có) của nó chỉ có thể xuất hiện và quan trắc được sau khoảng
5 tháng, nghĩa là vào khoảng tháng 3/2013.
3. Tuy nhiên, để có thể khẳng định chắc chắn ảnh
hưởng của cơn lũ tháng 10/2012 có gây ra động đất hay không thì cần phải tìm
hiểu về nguyên nhân không có số liệu động đất trước ngày 3/11/2011: Do không
xảy ra động đất nên không có tài liệu quan trắc hay đã xảy ra động đất mà do
chưa có thiết bị quan trắc nên không có tài liệu quan trắc? Nếu là do chưa có
thiết bị quan trắc thì chưa thể khẳng định được là sẽ không có động đất liên
quan đến cơn lũ vào tháng 10/2012 tới đây.
4. Kết quả phân tích cho thấy rằng, nếu có diễn
biến thay đổi mực nước hồ đủ lớn thì sẽ kéo theo hiện tượng động đất. Nghĩa là
sau này nếu hồ vẫn vận hành như trong đợt tích nước và rút nước vừa qua thì
hiện tượng động đất sẽ còn xảy ra, ít nhất là trong giai đoạn một số năm trước
mắt. Về lâu dài, khi đã vận hành nhiều năm thì có thể hiện tượng động đất có
thể tắt dần sau khi các cấu trúc địa chất đã đạt được trạng thái cân bằng. Điều
này rất khó để khẳng định vì nó hoàn toàn phụ thuộc vào cấu trúc địa chất khu
vực đó. Tác giả Harh K. Gupta có nêu một trường hợp, đó là hồ Shivaji Sagar tạo
bởi đập Koyna, tại bang Tây Ấn-Độ (Western India), hoàn thành năm 1962. Ở hồ
này trong vòng 38 năm sau đó đã xuất hiện 10 trận động đất với cường độ M ≥ 5;
trên 150 trận động đất với cường độ M ≥ 4, và trên 100.000 trận động đất có
cường độ M> 0. Như vậy để có thể kết luận động đất tại công trình thủy điện
Sông Tranh 2 có tắt dần về lâu về dài hay không, thì cần phải có các nghiên cứu
sâu hơn nữa.
5. Để giảm thiểu cường độ động đất thì giải pháp
là tốc độ thay đổi mực nước phải thật chậm. Như phân tích ở trên với mức 0,2
m/ngày đến 0,35 m/ngày đều gây động đất với cấp độ tương đối lớn. Nếu có thể
phải giảm tốc độ nạp tháo nước xuống thấp hơn nữa (ví dụ 0,05 đến 0,01 m/ngày, nghĩa
là 5 đến 1 cm/ngày) đồng thời quan trắc để kiểm nghiệm phản ứng từ lòng đất.
6. Cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc các quan
trắc về động đất và mực nước hồ như đã thực hiện trước đây để làm cơ sở cho các
phân tích trong tương lai và từ đó đưa ra các biện pháp điều chỉnh phù hợp.
7. Cần kết hợp các số liệu quan trắc trên với
việc xác định vị trí tâm chấn của các chấn động nằm trong các chuỗi động đất đã
quan trắc cũng như các chấn động tương tự trong tương lai, thêm vào đó là số
liệu khảo sát, đo vẽ chính xác cấu trúc địa tầng lòng hồ và khu vực xung quanh.
Tất cả các thông tin này cần được kết hợp trong 1 nghiên cứu chuyên đề nghiêm
túc của 1 đơn vị có chuyên môn, uy tín. Khi đó bức tranh toàn cảnh về vấn đề
động đất tại khu vực công trình thủy điện Sông Tranh 2 sẽ được hiện lên đầy đủ
hơn.
Hy vọng rằng, bài báo này giúp cho những cá nhân
và cơ quan quan tâm đến vấn đề động đất tại khu vực công trình thủy điện Sông
Tranh 2 có thêm thông tin tham khảo trong quá trình đưa ra biện pháp xử lý hữu
hiệu.
Bảng 1: Mô tả về thang động
đất MSK-64 và quy đổi sang thang Richter.
Thang động đất MSK-64 gồm 12 cấp, được Hội đồng địa
chấn Châu Âu thông qua năm 1964 và áp dụng cả ở Ấn Độ cụ thể như sau:
|
||
MSK-64
|
Richter
|
|
Cấp 1
|
Động đất không cảm thấy, chỉ có máy mới ghi nhận
được.
|
1-3
|
Cấp 2
|
Động đất ít cảm thấy (rất nhẹ). Trong những trường
hợp riêng lẻ, chỉ có người nào đang ở trạng thái yên tĩnh mới cảm thấy được.
|
3-3.9
|
Cấp 3
|
Động đất yếu. Ít người nhận biết được động đất.
Chấn động y như tạo ra bởi một ô tô vận tải nhẹ chạy qua.
|
|
Cấp 4
|
Động đất nhận thấy rõ. Nhiều người nhận biết động
đất, cửa kính có thể kêu lạch cạch.
|
4-4.9
|
Cấp 5
|
Thức tỉnh. Nhiều người ngủ bị tỉnh giấc, đồ vật
treo đu đưa.
|
|
Cấp 6
|
Đa số người cảm thấy động đất, nhà cửa bị rung nhẹ,
lớp vữa bị rạn.
|
5-5.9
|
Cấp 7
|
Hư hại nhà cửa. Đa số người sợ hãi, nhiều người khó
đứng vững, nứt lớp vữa, tường bị rạn nứt.
|
|
Cấp 8
|
Phá hoại nhà cửa; Tường nhà bị nứt lớn, mái hiên và
ống khói bị rơi.
|
6-6.8
|
Cấp 9
|
Hư hại hoàn toàn nhà cửa; nền đất có thể bị nứt
rộng 10 cm.
|
6.9-7.6
|
Cấp 10
|
Phá hoại hoàn toàn nhà cửa. Nhiều nhà bị sụp đổ,
nền đất có thể bị nứt rộng đến 1 mét.
|
7.6-8
|
Cấp 11
|
Động đất gây thảm họa. Nhà, cầu, đập nước và đường
sắt bị hư hại nặng, mặt đất bị biến dạng, vết nứt rộng, sụp đổ lớn ở núi.
|
>8
|
Cấp 12
|
Thay đổi địa hình. Phá huỷ mọi công trình ở trên và
dưới mặt đất, thay đổi địa hình trên diện tích lớn, thay đổi cả dòng sông,
nhìn thấy mặt đất nổi sóng.
|
|
Tài liệu tham khảo
1- Harsh K. Gupta, 2002, "A review of
recent studies of triggered earthquakes by artificial water reservoirs with
special emphasis on earthquakes in Koyna, India", Tạp chí Earth-Science
Reviews, số 58, năm 2002, trang 279–310;
2- International Rivers, Bản đồ các khu vực có
động đất do hồ chứa: internationalrivers.org
3- Peter M. James, "Mechanisms of reservoir
induced seismicity" (thông tin công bố trên mạng);
T.Q.N.
Ngày 27/9/2012


RSS Feed
Facebook
Twitter
0 comments:
Đăng nhận xét