Nguyễn Đắc Kiên
Khi tôi gửi những bài viết đầu tiên cho Ban biên tập Cùng Viết
Hiến Pháp, tôi có nhắn gửi rằng, tôi hiểu việc ký tên vào bản Dự thảo Hiến pháp
của nhóm 72 trí thức, cũng như việc tham gia trang Cùng Viết Hiến pháp, không
đơn thuần chỉ là để có một bản Hiến pháp tốt, mà cái quan trọng hơn là để thức
tỉnh người dân về quyền và trách nhiệm công dân của mình.
Khi bài viết “Vài lời…” của tôi được lan truyền, nhiều người
đã nhắn gửi tôi rằng, họ khâm phục, họ kính trọng việc làm của tôi, rằng họ
hèn…
Chuyện người dân không ý thức hết về quyền công dân của
mình, hay chuyện những người bạn tôi nhận họ hèn mới nhìn qua thì không có gì
nghiêm trọng. Nếu có ai đó coi là chuyện thường tình, nhỏ nhặt thì cũng chẳng
đáng ngạc nhiên. Nhưng ít người biết rằng,
những sự tệ hại xấu xa nhất mà xã hội con người có thể tạo nên lại có thể xuất
phát từ những “thường tình, nhỏ nhặt” đó.
Gần đây, người ta quay lại tranh luận về chuyện độc đảng hay
đa đảng. Có những lý lẽ xem chừng rất thuyết phục được đưa ra, như lý lẽ của
Thiếu tướng Lê Văn Cương. Tại sao Trung Quốc độc đảng vẫn phát triển vượt xa một
Ấn Độ đa đảng? Hay tham nhũng, suy thoái kinh tế nước nào chẳng có, đâu cứ nước
độc đảng… quan trọng là cách thiết kế bộ máy, cách kiểm soát để hạn chế tham
nhũng, lũng đoạn(*).
Nếu chỉ nhìn ở góc độ một nhà nước để cai trị, rất khó để phủ
nhận lập luận của Thiếu tướng Cương. Emmanuel Poisson còn chỉ ra rằng, bộ máy
quan lại trong chế độ quân chủ phương Đông là một thiết kế đáng ngạc nhiên về độ
hiệu quả và ổn định khi nó đã tồn tại hàng nghìn năm, các triều đại thay nhau,
nhưng thiết kế bộ máy thì không mấy thay đổi(**). Hay là chúng ta quay trở lại
chế độ vua quan?
Có lẽ chẳng ai thèm đếm xỉa đến câu hỏi ngớ ngẩn này. Nếu chỉ
đặt mục tiêu cai trị thì thiết kế của nhà nước quân chủ phương Đông thật đáng
tham khảo, nhưng nếu đặt mục tiêu phát huy phẩm giá, nhân cách con người, quyền
làm chủ của nhân dân thì chúng ta sẽ phải suy nghĩ khác.
Độc đảng hay đa đảng khác nhau căn bản không phải hình thức
tồn tại của nó mà ở phương thức để nó duy trì sự tồn tại của mình. Nhà nước độc
đảng, cũng giống như nhà nước quân chủ chuyên chế và thực dân, muốn tồn tại và
hợp thức hoá sự lãnh đạo của mình, không thể không viện đến một hệ thống áp chế
về tư tưởng, nô dịch về văn hóa và trói buộc về tư duy. Một cách tự nhiên,
trong hệ thống đó, mọi sự khác biệt đều không được khuyến khích, thậm chí bóp
nghẹt. Nếu nhà nước có thể biến tất cả những thần dân thành những chú cừu ngoan
ngoãn thì càng tốt. Những chú cừu ngoan ngoãn đó vẫn có thể sản xuất ra thật
nhiều của cải, để làm đẹp các con số thống kê, nâng cao bảng thành tích. Cuối
cùng, chính những bảng thành tích đó lại có thể dùng làm bằng cớ cho sự ngụy biện
của giới cai trị. Nhưng có một điều bất biến, những chú cừu đó chẳng bao giờ được
khuyến khích để có thể tự ý thức như những con người.
Vì thế có những người thừa nhận với tôi là họ hèn như một sự
hiển nhiên không cần phải giấu giếm. Sự đó có thể vô hại trong trường hợp này,
nhưng hãy tưởng tượng, một xã hội toàn những con người mà những phẩm giá bị giũ
bỏ, coi khinh như một lẽ thường tình thì xã hội đó sẽ như thế nào?
Người ta dễ dàng tránh xa và lên án những tội ác hiển nhiên
như giết người, cướp của, nhưng không mấy ai biết xã hội ngày càng tồi tệ đi,
không thể cứu chữa nổi là từ những cái tội khó quy thành tội, từ những cái ác
khó quy thành ác được dễ dàng thoả hiệp và diễn ra hàng ngày.
Tôi tin rằng, nếu ĐCS VN có được đội ngũ lãnh đạo tốt, một
cơ chế kiểm soát quyền lực đủ mạnh, họ
có thể dẫn dắt đất nước đạt nhiều thành tích đáng kể về kinh tế, nhưng để phát
huy quyền làm chủ và phẩm giá con người Việt Nam, họ sẽ không thể nào làm được
nếu không tự rút súng bắn vào chân mình.
N.Đ.K
(*) Đa đảng không hẳn là ưu việt – Lê Văn Cương
(**) Xem thêm: Emmanuel Poisson, Quan và lại ở miền Bắc Việt
Nam – một bộ máy hành chính trước thử thách (1820 – 1918), NXB Đà Nẵng, năm
2006

RSS Feed
Facebook
Twitter
0 comments:
Đăng nhận xét