Đồ Phi
Bí pháp thiên thọ lộ: Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống tại
thế
Quy pháp phục nguyên thánh thể – khai Hội Long Hoa.
Lộ: ý nói, là con đường hiển hiện, rõ ràng trước mắt thiên hạ.
Thọ: tại mặt thế nầy, là con người mang thân tứ đại giả hiệp: đất, nước, lửa, gió, sống thọ quá 100 tuổi cũng phải chết. Vậy thọ ở đây muốn nói về tinh thần đạo đức của con người, chỉ có tinh thần đạo đức nhơn nghĩa ấy mới sống thọ trong cái cảnh giới hằng sống, vĩnh cửu trường tồn, an bình hạnh phúc. Cho nên cái bí pháp ý nghĩa của chữ thọ là hằng sống, ý nói tôn tặng cái nghĩa cử thương yêu cao thượng, đối nhân xử thế, chia sẽ và yên ủi giữa tình người thiêng liêng sâu đậm với nhau, nó lưu giữ và sống mãi với thời gian nêu gương sáng cho nhơn loại đồ theo.
Hành tàng ấy xứng là bậc nguyên nhân đại diện và gương mẫu
cho hàng phẩm vị nhơn hồn, các đấng nguyên nhân ấy, tự họ định phận lấy họ, tự
định vị cho họ xuất hiện sở hành qua 5 cấp: Thần, Thánh, Tiên, Phật và Trời. Nhằm
mục đích mượn cái danh nghĩa thiêng liêng đặng giáo hóa vạn linh, phụng sự
trong khuôn luật bác ái và công bằng; còn ngoài ra tất cả chỉ là phương tiện mà
thôi. Cho nên duy chỉ có con người mới chết, bởi hữu hình thì hữu hoại; chớ
hành tàng thiêng liêng cao trọng ấy nào chết, nó vẫn sống mãi trong tri thức của
con người, do vậy được đạo học tôn tặng gọi là một chơn linh cao trọng ngan
hàng phẩm giá đáng bậc làm thầy thiên hạ. Thế gian thường nói hùm chết để da,
người ta chết để tiếng là vậy.
Con người là phương tiện của sự thương yêu; và con người
cũng là chiếc thuyền chở đầy ấp sự yêu thương, ban phát cho mọi người cùng hưởng.
Do vậy cái thuyết chính danh của sự thương yêu ấy mà các nhà tôn giáo mượn cái
nghĩa cử cao thượng đó để tôn tặng lên tột phẩm vị thiêng liêng… còn gọi là các
bậc nguyên nhân phi thường, những đấng anh hào tuấn kiệt mà mắt đời ít hay thường
thấy. Thiêng liêng cho xuất hiện do sở hành, có hữu hình nhìn nhận, các đấng ấy
xứng là chư thần, thánh, tiên, phật tại mặt thế gian nầy. Sở hành cao trọng ấy
vẫn sống mãi với thời gian, tiền tấn hậu kế, những đấng ấy đã tiên phong đại diện
cho một khối đông người nêu gương sáng cho đời bắt chước đồ theo vì thương mà
phụng sự, đặng trả nợ đồng sanh nhơn luân chi đạo, thi hành nhơn nghĩa tiến đến
đại đồng. Cái bí pháp Thế đạo lưu danh ư hậu thế của các bậc hiền triết, đã dám
hủy mình vì lý tưởng phụng sự cao đẹp ấy để đổi lấy hạnh phúc cho hàng triệu
người, nó sẽ sống mãi trong tinh thần nhơn loại là đó vậy.
Vậy thọ ở đây, nói cho thật dễ hiểu là hành tàng của Bí
pháp hằng sống lưu danh ư hậu thế, của 92 ức nguyên nhân phục sinh trong sự yêu
thương mà phụng sự, tự thân cứu thế, độ nhơn, hành chánh pháp đặng quy hồi cựu
vị khai Hội Long Vân.
Thiên: là trời, với chơn pháp ý muốn nói nước Thiên đàng
tại thế mà thiên hạ là trời; chơn đạo của Đức Chí Tôn lập Bạch Ngọc Kinh Tòa
Thánh Tây Ninh nầy để cho người thờ người, chính yếu cho nhơn loại thờ nhơn loại.
Tóm lại, Bí pháp của Thiên Thọ Lộ, là con đường của các bậc
nguyên nhân phục sinh về dự Hội Long Hoa (nước Thiên đàng) tại Bạch Ngọc Kinh Đền
Thánh Tây Ninh.
Trên quốc lộ 22, muốn vào Tòa Thánh Tây Ninh, khi đến ngã
ba Thiên Thọ Lộ thuộc ấp Trường Ân; xã Trường Đông; huyện Hòa Thành (TN) chia
làm 02 đường:
1- Đi thẳng thì lên Giang Tân, quẹo phải vòng quanh bán nguyệt vào Tòa Thánh.
2- Đến ngã ba Thiên Thọ Lộ, bên phải trực chỉ, đi tắt theo đường thẳng bán kín về Đại gia đình thiêng liêng Tòa Thánh Tây Ninh.
1- Đi thẳng thì lên Giang Tân, quẹo phải vòng quanh bán nguyệt vào Tòa Thánh.
2- Đến ngã ba Thiên Thọ Lộ, bên phải trực chỉ, đi tắt theo đường thẳng bán kín về Đại gia đình thiêng liêng Tòa Thánh Tây Ninh.
Ải địa đầu
Đầu đường ngã ba Thiên Thọ lộ, Đức Giáo chủ Hộ pháp và Đức Phật Chuẩn Đề gọi là cửa Ải địa đầu “Cẩm Tú Giang San”. Nơi dành cho các bậc nguyên nhân, anh hào tuấn kiệt tỉnh mộng có nghĩa xuất hiện sở hành tiên phong, dẫn đầu mở cửa nêu gương, chỉ lối trên tinh thần đạo đức nhơn nghĩa thương yêu. Nhằm mục đích phụng sự vạn linh, thực hiện đạo đời tương đắc, vạn linh hiệp chí linh, thiên hạ thái bình.
Đến nay, xã Trường Đông dân cư đông đúc, mới phân làm hai khu vực A và B; huyện Hòa Thành; có 02 Thánh thất và 02 Điện thờ. Con đường Thiên Thọ Lộ, trãi dài bắt đầu thuộc địa phận ấp Trường Ân, xã Trường Đông cho đến Tòa Thánh; cũng là giao thông tiếp cận xã Cẩm Giang, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Hiện nay xã Cẩm Giang có 01 Thánh Thất và 01 Điện Thờ; đặc biệt đáng lưu ý và vui mừng xã Cẩm Giang và Trường Đông B, tại Ải Đại đầu Thiên Thọ Lộ (thuộc địa phận gần quốc lộ 22) có chung một Điện thờ cách cửa ải địa đầu ngã ba khoảng 200m, được biểu hiện qua đôi liễn:
Thánh Điện quy nguyên phước đức Thiên khai thành cẩm tú,
Diêu Trì giác thế thiện duyên địa trữ lịch giang san.
Đôi liễn nầy đặt tại mặt sau, cổng chánh đi vào Điện Thờ Phật Mẫu tại xã Cẩm Giang. Nơi cổng của Đ.T. Phật Mẫu tại xã Trường Hòa cũng có cẩn đôi liễn nầy (kế cận vườn cao su gần Trí Huệ Cung).
Mở Cửa Ải địa đầu Thiên Thọ Lộ
Sau khi mở cửa tại Bạch Ngọc Kinh Tòa Thánh Tây Ninh, thi hành Nhơn Nghĩa đêm mùng 7 tháng 4 Nhâm Thìn (2012) Vía Đại Đàn Đức Phật Thích Ca, 0 giờ – tin mừng.
Khoảng 12 giờ trưa, ngày 21 tháng 6 năm Qúí Tỵ
(28-7-2013), là ngày 05 Tín đồ quèn cung Hạo Nhiên Pháp Thiên phản hồi trở về mở
cửa Ải địa đầu (Cẩm Tú Giang San) Thiên Thọ Lộ, giúp cho (hội kín) Bí pháp Thế
đạo Cao Đài mai danh ẩn tích (rù rì) cách nay trên 20 năm ra thiệt tướng gọi là
Chơn pháp Thế đạo. Không khác Tôn Hành Giả bị Phật Tổ Như Lai phạt trấn thân dưới
Ngũ Hành Sơn 500 năm, may nhờ thiên cơ chuyển pháp Đức Tam Tạng đi thỉnh kinh ở
Tây Phương Cực Lạc, được sự mách bảo của Quan Thế Âm Bồ Tát truyền mật pháp cho
Đường Tăng Trần Huyền Trang mở phép trấn thân, nên Tôn Hành giả mới giải thoát
ra khỏi núi Ngũ Hành, phong là Ngộ Không. Cùng với hai sư đệ Ngộ Tịnh và Ngộ
Năng, ba anh em bảo hộ thầy Tam Tạng đến Tây Phương hoàn thành sứ mạng thỉnh
kinh mà vua Đường giao phó, trở về nhà Đường truyền phật pháp giáo hóa muôn
dân, thiên hạ thái bình, lạc nghiệp âu ca.
Bí Pháp ra thiệt tướng
Bí Pháp ra thiệt tướng
Đúng 7 giờ 30’ sáng ngày 10-9-2013 (mùng 06-8 Quý Tỵ) tại
văn phòng Công an xã Trường Đông, huyện Hòa Thành (Tây Ninh) là ngày ra thiệt
tướng. Chị 5 Hưởng được Công an mời vì lý do: chị nhờ Quang là con của chị, gởi
cho ban công an xã Trường Đông một bộ sách “Chơn đạo:1-2-3-4-5-6”; và 03 đề tài
nhỏ:
1/- Bài viết tay của Võ Hồng Thọ, gửi cho Ngài Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, tháng 12- 2006, mới vừa nhậm chức Thủ Tướng Chính Phủ nước CHXHCN Việt Nam.
2/- Thánh Thất Long Bình thảo phạt loạn thần.
3/- Xa Lộ Pháp Luật Lập Trận Mê Hồn.
1/- Bài viết tay của Võ Hồng Thọ, gửi cho Ngài Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, tháng 12- 2006, mới vừa nhậm chức Thủ Tướng Chính Phủ nước CHXHCN Việt Nam.
2/- Thánh Thất Long Bình thảo phạt loạn thần.
3/- Xa Lộ Pháp Luật Lập Trận Mê Hồn.
Nghe công an cho biết sự việc, chị 5 Hưởng ngạc nhiên, quả
quyết:
– Tôi không có biểu nó (Quang) và tôi cũng không có nhờ ai gửi vô đây.
Quang đành chịu thiệt với chú Công an, trước mặt mẹ mình, ý nói như vầy:
– “Cách nay nửa tháng, tôi được mấy cậu hướng dẫn về tinh thần đạo đức nhơn nghĩa, rất hữu ích cho tôi về chân lý sống. Có gần nhau mới hiểu nhau, thế mà từ trước đến nay, đa số mọi người từ trong dòng họ ra tới ngoài xã hội thường biếm nhẻ, chỉ trích chê bai, miệt thị mấy cậu, mấy dì… là nhóm “đạo rù rì thờ Hộ pháp”; là tả đạo bàn môn; theo tụi đó có ngày bị công an bắt, chết không ai làm đám xác đi chôn… Chúng ta đang sống trong thời buổi văn minh hiện đại, thật đáng buồn cái nhận thức của con người còn tối tăm và mê muội sống trong cảnh giả, trốn tránh sự chơn thật.
– Tôi không có biểu nó (Quang) và tôi cũng không có nhờ ai gửi vô đây.
Quang đành chịu thiệt với chú Công an, trước mặt mẹ mình, ý nói như vầy:
– “Cách nay nửa tháng, tôi được mấy cậu hướng dẫn về tinh thần đạo đức nhơn nghĩa, rất hữu ích cho tôi về chân lý sống. Có gần nhau mới hiểu nhau, thế mà từ trước đến nay, đa số mọi người từ trong dòng họ ra tới ngoài xã hội thường biếm nhẻ, chỉ trích chê bai, miệt thị mấy cậu, mấy dì… là nhóm “đạo rù rì thờ Hộ pháp”; là tả đạo bàn môn; theo tụi đó có ngày bị công an bắt, chết không ai làm đám xác đi chôn… Chúng ta đang sống trong thời buổi văn minh hiện đại, thật đáng buồn cái nhận thức của con người còn tối tăm và mê muội sống trong cảnh giả, trốn tránh sự chơn thật.
Gần đây, má tôi gọi điện thoại dọa mấy cậu, mấy dì, “nếu
dụ dỗ tôi vào đạo thờ Hộ pháp” thì bà báo với công an bắt hết, những người ấy
là ai? Đều là anh em bà con dòng họ ruột thịt của bà. Tự tôi đi tìm chơn lý,
khó mấy ai huyễn dụ lấy cái giả gạt được tôi đâu; giận nói vậy chớ nở lòng nào
bà đi thưa kiện huyết thống của mình, vừa là người ân nhân của mình, nhờ họ dạy
dỗ con mình trở thành một người tốt đời đẹp đạo. Tôi quá bức xúc, muốn tạo điều
kiện cho đời biết đạo, để đánh tiêu cái giả cảnh tương tàn luận nhảm bàn khùng
trên 20 năm nay; nên tôi mượn danh nghĩa má tôi gửi cho UBND xã Trường Đông một
bộ sách “chơn đạo”, cho chính quyền có dịp tìm hiểu để đạo đời dễ xích lại gần
nhau, yêu thương nhau, bởi họ là con dân của mình.”
Với tinh thần giả tướng vật chất khí của Thể pháp thì Hạo Nhiên buồn chị 5 Hưởng lắm đó! Nhưng đối với Bí pháp độ hồn thì chân thành cám ơn chị, đã được thiêng liêng mượn cái miệng của chị: “cảnh báo thưa công an”, để Hạo Nhiên Tăng có phương chỉnh đốn phá trận mê hồn, kể từ nay không còn mai danh ẩn tích nữa mà phải xuất hiện thi hành nhơn nghĩa, đạo đời tương đắc. Trên 20 năm những tín đồ chân chính bị Thể pháp của đời trấn thân tại Ải địa đầu không dám lộ thiên cơ.
Với tinh thần giả tướng vật chất khí của Thể pháp thì Hạo Nhiên buồn chị 5 Hưởng lắm đó! Nhưng đối với Bí pháp độ hồn thì chân thành cám ơn chị, đã được thiêng liêng mượn cái miệng của chị: “cảnh báo thưa công an”, để Hạo Nhiên Tăng có phương chỉnh đốn phá trận mê hồn, kể từ nay không còn mai danh ẩn tích nữa mà phải xuất hiện thi hành nhơn nghĩa, đạo đời tương đắc. Trên 20 năm những tín đồ chân chính bị Thể pháp của đời trấn thân tại Ải địa đầu không dám lộ thiên cơ.
Chị hoàn toàn không biết và không liên quan gì về Bí pháp
Hạo Nhiên của đạo Cao Đài, mà lại đi tố tụng Hạo Nhiên truyền bá đức tin thờ Hộ
pháp. Đã dốt chữ, lại làm càn, chị ỷ quyền mượn thế công an để bắt nạt “Hộ pháp
rù rì”; nhưng ngược lại “rù rì Hộ pháp” nhờ công an mời chị đến tại xã để cám
ơn chị, mượn 5 Hưởng làm cái thế đặng toan phương giác thế, tạo điều kiện cho
bí pháp chơn truyền ra thiệt tướng kỳ ba. Thật vậy, 7 giờ 30’ sáng tại văn
phòng công an xã Trường Đông, chị 5 Hưởng bị công an mời trên mặt trận trí thức
đạo đức tinh thần, do con (Quang) của chị mượn danh nghĩa gài chị vào trận mê hồn
tại UB xã, nhằm mục đích đánh tiêu cái giả tướng mê tín để sống với cảnh sống
thật có nguồn, có cội văn hiến 4000 năm anh hùng, bất diệt.
Đúng 7 giờ 30’ sáng hôm ấy, hai mẹ con Hưởng – Quang nào ngờ có sự xuất hiện của cậu Út Ráo và dì 2 Go được công an ra tận nhà chở vào tại ban công an xã Trường Đông; trong khi Út Ráo không được công an mời đến dự, nên không cho anh ta vào phòng làm việc. Họ là những nhân chứng sống “đạo kín rù rì” đã 20 năm rồi vẫn còn đây, để sưởi ấm lòng băng giá của mẹ con Quang khi lâm trận, xuất pháp thân mở cửa ải địa đầu Cẩm Tú Giang San thành hiện thực.
Cuối cùng chị tự giác, gọi tài xế riêng lái xe nhà đến xã, chở chị về lấy một bộ sách “Chơn đạo: 1-2-3-4-5-6” của Đồ Phi biên soạn, chị giao cho ban công an xã Trường Đông. Thế mà trước đó chị lấy của Quang, dấu biệt tích không chịu lộ ra… chị bảo với Quang là đã giao cho Công an rồi. Do vậy ban công an xã Trường Đông được 02 bộ sách “Chơn đạo” hình màu bìa ngoài rất đẹp; một bộ gài trận của Quang do 2 Go gửi và một bộ của chị 5 Hưởng là của Đồ Phi đã tặng trực tiếp cho Quang.
Đúng 7 giờ 30’ sáng hôm ấy, hai mẹ con Hưởng – Quang nào ngờ có sự xuất hiện của cậu Út Ráo và dì 2 Go được công an ra tận nhà chở vào tại ban công an xã Trường Đông; trong khi Út Ráo không được công an mời đến dự, nên không cho anh ta vào phòng làm việc. Họ là những nhân chứng sống “đạo kín rù rì” đã 20 năm rồi vẫn còn đây, để sưởi ấm lòng băng giá của mẹ con Quang khi lâm trận, xuất pháp thân mở cửa ải địa đầu Cẩm Tú Giang San thành hiện thực.
Cuối cùng chị tự giác, gọi tài xế riêng lái xe nhà đến xã, chở chị về lấy một bộ sách “Chơn đạo: 1-2-3-4-5-6” của Đồ Phi biên soạn, chị giao cho ban công an xã Trường Đông. Thế mà trước đó chị lấy của Quang, dấu biệt tích không chịu lộ ra… chị bảo với Quang là đã giao cho Công an rồi. Do vậy ban công an xã Trường Đông được 02 bộ sách “Chơn đạo” hình màu bìa ngoài rất đẹp; một bộ gài trận của Quang do 2 Go gửi và một bộ của chị 5 Hưởng là của Đồ Phi đã tặng trực tiếp cho Quang.
Tư liệu “Chơn đạo”, đã viết rõ về nguồn gốc và sứ mạng của
tinh thần Bí pháp Hạo Nhiên, được gửi đến UBND xã Trường Đông ngày 10-9-2013 là
địa phương cấp xã cuối cùng mới biết hành tàng của những tín đồ quèn. Trong khi
sự vận động và phát triển về mặt trí thức tinh thần đạo đức của Chơn pháp Hạo
Nhiên mà trước kia thiên hạ bảo rằng “đạo kín rù rì” đã đủ đầy những bằng chứng
sống tốt đời đẹp đạo, xuất hiện trong khuôn luật thương yêu và công bằng từ năm
2006, dám hy sinh, can đảm, trung quân ái quốc trên trường đấu trí về mặt tinh
thần đạo đức, tiến đến đại đồng thiên hạ. Giúp cho một nước Việt Nam tuy nhỏ
nhen trong vạn quốc, nhưng ngày sau làm chủ toàn cầu mới là lạ đó chớ! Từ trung
ương đến địa phương, nhơn dân trong cả nước và trên thế giới đều đặc biệt lưu
tâm những tín đồ quèn Hạo Nhiên Tăng, đã biểu hiện được cái bản chất đại nghĩa
của một dân tộc Việt Nam anh hùng.
Đạo Đời tương đắc thi hành nhơn nghĩa.
Tết Trung thu, rằm (15) tháng 8 Quý Tỵ (2013), được sự gợi
ý của Hiệu Trưởng Trường Đông B, Nguyễn Thành Lễ tuổi trẻ tài cao, hài hòa, đức
độ; cần 300 phần quà phát cho 300 em học sinh cấp I Tiểu học. Tín đồ quèn Bí
pháp Phạm môn cung Hạo Nhiên Pháp Thiên, gồm có: út Ráo, Thanh Công, 2 Go, Ngọc
Trinh, 3 Ghe, Kim Anh, 4 Biết, Quang, Công Nhuận, Đồ Phi…chuẩn bị quà phát cho
mấy em học sinh tại trường.
Được sự hội ý tốt nhứt, cổ vũ nghĩa tình của anh 6 Bá thổ
địa ấp Trường Ân, xã Trường Đông là một cán bộ về hưu năm 2012, gặp mặt nhau mỗi
sáng trên bàn cà phê vườn “Mai Xanh” tâm hòa ý hiệp. Trước kia, anh là công an ấp
Trường Ân, 6 Bá là một cán bộ mẫu mực, ôn hòa khôn khéo; sau một thời gian được
UB triệu hồi giao trọng trách cùng với anh em mở rộng quản lý địa bàn công an
xã Trường Đông, anh là một đảng viên chánh trực bao dung; được dân mến dân
thương đó là phần đời. Còn về phần đạo, anh cho biết ông Cao Đức Trọng, Chủ trưởng
Điện thờ xã Cẩm giang (vừa là của Trường Đông B) là thầy của anh ngày xưa, vì
lúc còn trai trẻ thanh niên, anh là lễ sĩ trong ban lễ nhạc Điện thờ Cẩm giang
đạo Cao Đài, thật đáng quý một tinh thần biết tôn sư trọng đạo.
Quả vậy, anh là ông Thần thổ địa hay còn gọi là Địa Thần chánh vị, là vì duy chỉ có anh mới hội đủ cái công nghiệp phụng sự cho đạo đời tương đắc ở trong anh. Tại địa phương lo gìn giữ an ninh trật tự, cho nhân dân vui sống; những ngày lễ lớn được sự điều động của cấp trên cùng nhau bảo vệ yên bình tại Đền Thánh Tây Ninh cho nhơn sanh vui hưởng hạnh phúc tinh thần.
Quả vậy, anh là ông Thần thổ địa hay còn gọi là Địa Thần chánh vị, là vì duy chỉ có anh mới hội đủ cái công nghiệp phụng sự cho đạo đời tương đắc ở trong anh. Tại địa phương lo gìn giữ an ninh trật tự, cho nhân dân vui sống; những ngày lễ lớn được sự điều động của cấp trên cùng nhau bảo vệ yên bình tại Đền Thánh Tây Ninh cho nhơn sanh vui hưởng hạnh phúc tinh thần.
Ví như, Tề Thiên Đại Thánh náo loạn thiên cung trong Tây
Du Ký, không sợ trời, không sợ đất; nhưng khi đến địa phương nào muốn biết rõ sự
tình, buộc cũng phải hỏi qua ông Thần Thổ Địa, đó là quy luật định pháp của
thiên triều, không qua không đặng!
Thiên thời, địa lợi đôi điều sẵn, chỉ có hòa nhân mới hiệp
quần. 08 giờ sáng, ngày 12 tháng 8 năm Quý Tỵ (16-9-2013) tại Trường Tiểu học
Trường Đông B, dưới sự hân hoan có mặt đông đủ của thầy cô nhà trường và 300 em
học sinh rộn rã như chim én luyện mừng xuân, đúng là những mầm non của tổ quốc
Lạc Hồng. Thay mặt quyền đời có UB xã Trường Đông, chủ tịch ấp Trường Ân và ông
Địa Thần 6 Bá, đứng lên đại diện phát quà cho mấy em học sinh. Kế tiếp anh, chị,
em Tín đồ Đạo Tâm cung Hạo Nhiên phát 200 phần quà Trung thu và lồng đèn; chị 5
Hưởng bao chót 100 cái bánh Trung thu xinh lịch thơm hương; cuối cùng Chánh Trị
sự Nhựt là thổ địa Trường Đông B thương mấy cháu quá không muốn để sót một cháu
nào, kịp lúc bổ sung thêm 300 cái bánh Kinh Đô, cho mấy cháu hưởng một cái tết
Trung thu hoành tráng hơn tất cả mọi năm. Thật vậy, Hiệu trưởng Lễ vui mừng tiết
lộ, đã bao mùa Trung Thu đi qua, chỉ có năm nay mấy em mới hưởng được một cái tết
Trung Thu to lớn, đầy đủ ý nghĩa ân tình sâu nặng, phủ phê về vật chất lẫn tinh
thần.
Buổi sáng hôm ấy, quả thật là một ngày phát khởi trên con
đường đạo đời tương đắc, để cùng nhau phụng sự cho đám thiếu niên nhi đồng một
món quà tinh thần yêu nước của đàn cựu đi trước, như nhắn nhủ và kỳ vọng vào
tương lai tuổi trẻ quang vinh của mấy em hậu tấn đời sau, phải tận nhơn lực xây
dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam ta giàu mạnh và mãi trường tồn một tinh thần đại
nghĩa cho thế giới nêu gương, ngàn đời oanh liệt.
Ngày giờ nào toàn thể nhơn loại trên hoàn cầu này, biết
thống nhất thực hiện cái năng lực đạo đời tương đắc, vạn linh hiệp chí linh để
cùng hướng đến một mục đích thi hành nhơn nghĩa, thì không có một thế lực nào
ngăn cản nổi cái võ khí đạo đức tinh thần trên con đường tiến đến đại đồng
thiên hạ, hòa bình tự trị.
Pháp lộ Trường Lưu
Từ Thành phố HCM đi Tây Ninh, đến ngã ba Thiên Thọ
Lộ quẹo phải gọi là cửa ải địa đầu “Cẩm Tú Giang San”. Trên tuyến đường Thiên
Thọ Lộ, ấp Trường Lưu thuộc địa phận xã Trường Đông, xuất hiện sở hành qua câu
kinh “Trường lưu khai cửu, thập nhị tào chi mê muội”, ý nói kỳ nầy:
▪ “Đức Lý vâng lịnh Ngọc Hư nay xuống thế, Tam Kỳ độ rổi ức nguyên nhân”. Hạo Nhiên Tăng, được thiên thơ chuyển pháp của Đức Lý từ cửa Bạch Ngọc Kinh đến đây, giúp cho các nguyên nhân lần lượt tỉnh mộng thi hành nhơn nghĩa quy hồi cựu vị.
▪ “Đức Lý vâng lịnh Ngọc Hư nay xuống thế, Tam Kỳ độ rổi ức nguyên nhân”. Hạo Nhiên Tăng, được thiên thơ chuyển pháp của Đức Lý từ cửa Bạch Ngọc Kinh đến đây, giúp cho các nguyên nhân lần lượt tỉnh mộng thi hành nhơn nghĩa quy hồi cựu vị.
Chợ Thiên Vương
Quan trọng nhất trên tuyến đường Thiên Thọ Lộ từ cửa ải địa đầu về Tòa Thánh Tây Ninh là Chợ Thiên Vương (đời gọi là chợ Trường Đông), Đức Hộ pháp căn dặn:
“Rồi đây còn phải lập một cái Chợ nữa, kêu là Chợ Thiên Vương tại ngã ba Thiên Thọ Lộ, thuộc xã Trường Hòa, lần lượt mở con kinh ra phía trên sông Cẩm Giang để làm bến ghe tàu xuất nhập cảng hàng hóa, sản phẩm cùng là thực phẩm, tự do thương mãi.
Còn hai hình ngồi trên lưng hạc là Tân Dân Tử và Tôn Võ Tử. Xưa kia, Tân Dân Tử dạy Tôn Võ Tử học đạo Tiên. Ngày nọ, hai thầy trò cỡi hạc vân du ngoạn cảnh. Tân Dân Tử dặn Tôn Võ Tử:
– Thầy dặn con một điều, nếu lòng con còn mến tiếc việc phàm trần, nhứt là khi bay ngang qua chợ Thiên Vương là quê hương của con, nếu lòng con tưởng nhớ việc trần thì con hạc bay không nổi, nó phải đáp xuống, rồi con phải ở lại cõi trần, không về cùng Thầy được.
Tuy Tôn Võ Tử đã đạt phẩm Nhơn Tiên, mà tránh không khỏi nét phàm, nên khi hạc bay ngang qua chợ Thiên Vương, nhìn thấy cảnh cũ, lòng bắt ngậm ngùi, con hạc liền đáp xuống. Tôn Võ Tử ở lại Chợ Thiên Vương, buồn bã đi tìm nơi quê xưa. Khi trở về nhà cũ, thấy người vợ trước kia nay đã già quá 70 tuổi, còn ông thì nhờ tu Tiên, vẫn giữ được như thuở 40, muốn tạo lại sự nghiệp thì đã muộn, muốn tái lập đạo nhơn luân thì vợ đã già, bèn than rằng: “Ta đã theo thầy học đạo Tiên trên 30 năm, nếu bây giờ ở luôn lại đây thì uổng công tu luyện, mà muốn theo thầy thì con hạc không cất cánh nổi. Ôi! Lỡ Đạo lỡ Đời, ấy cũng vì ta không nghe lời thầy mà không nên Đạo.”
Đức Phạm Hộ Pháp thuật đến đây rồi kết luận:
– Ngày nay, nếu mấy em quên làm con hạc hướng về Chợ Thiên Vương, ấy là một duyên cớ về thể pháp, tượng trưng nêu gương cho các bực chơn tu phải cố gắng giữ lòng thanh bạch, dẫu còn ở lẫn lộn nơi trần thế mà không nhiễm trần mới đắc đạo được. Đó cũng là một phương chọn Thánh lọc phàm.
Chúng tôi sưu tầm được một bài giáng cơ của Ông Tôn Võ Tử, chép ra sau đây:
Báo Ân Từ, ngày 15-8-Kỷ Sửu (dl 6-10-1949).
Phò loan: Đức Hộ Pháp – Cao Tiếp Đạo. TÁI CẦU:
THI:
TÔN quân gặp đặng các chư Hiền,
VÕ đức văn nhân của Thánh Tiên.
TỬ hậu bia danh muôn kiếp để,
GIÁNG cơ chuyện vãn chốn đàn tiền.
Quan trọng nhất trên tuyến đường Thiên Thọ Lộ từ cửa ải địa đầu về Tòa Thánh Tây Ninh là Chợ Thiên Vương (đời gọi là chợ Trường Đông), Đức Hộ pháp căn dặn:
“Rồi đây còn phải lập một cái Chợ nữa, kêu là Chợ Thiên Vương tại ngã ba Thiên Thọ Lộ, thuộc xã Trường Hòa, lần lượt mở con kinh ra phía trên sông Cẩm Giang để làm bến ghe tàu xuất nhập cảng hàng hóa, sản phẩm cùng là thực phẩm, tự do thương mãi.
Còn hai hình ngồi trên lưng hạc là Tân Dân Tử và Tôn Võ Tử. Xưa kia, Tân Dân Tử dạy Tôn Võ Tử học đạo Tiên. Ngày nọ, hai thầy trò cỡi hạc vân du ngoạn cảnh. Tân Dân Tử dặn Tôn Võ Tử:
– Thầy dặn con một điều, nếu lòng con còn mến tiếc việc phàm trần, nhứt là khi bay ngang qua chợ Thiên Vương là quê hương của con, nếu lòng con tưởng nhớ việc trần thì con hạc bay không nổi, nó phải đáp xuống, rồi con phải ở lại cõi trần, không về cùng Thầy được.
Tuy Tôn Võ Tử đã đạt phẩm Nhơn Tiên, mà tránh không khỏi nét phàm, nên khi hạc bay ngang qua chợ Thiên Vương, nhìn thấy cảnh cũ, lòng bắt ngậm ngùi, con hạc liền đáp xuống. Tôn Võ Tử ở lại Chợ Thiên Vương, buồn bã đi tìm nơi quê xưa. Khi trở về nhà cũ, thấy người vợ trước kia nay đã già quá 70 tuổi, còn ông thì nhờ tu Tiên, vẫn giữ được như thuở 40, muốn tạo lại sự nghiệp thì đã muộn, muốn tái lập đạo nhơn luân thì vợ đã già, bèn than rằng: “Ta đã theo thầy học đạo Tiên trên 30 năm, nếu bây giờ ở luôn lại đây thì uổng công tu luyện, mà muốn theo thầy thì con hạc không cất cánh nổi. Ôi! Lỡ Đạo lỡ Đời, ấy cũng vì ta không nghe lời thầy mà không nên Đạo.”
Đức Phạm Hộ Pháp thuật đến đây rồi kết luận:
– Ngày nay, nếu mấy em quên làm con hạc hướng về Chợ Thiên Vương, ấy là một duyên cớ về thể pháp, tượng trưng nêu gương cho các bực chơn tu phải cố gắng giữ lòng thanh bạch, dẫu còn ở lẫn lộn nơi trần thế mà không nhiễm trần mới đắc đạo được. Đó cũng là một phương chọn Thánh lọc phàm.
Chúng tôi sưu tầm được một bài giáng cơ của Ông Tôn Võ Tử, chép ra sau đây:
Báo Ân Từ, ngày 15-8-Kỷ Sửu (dl 6-10-1949).
Phò loan: Đức Hộ Pháp – Cao Tiếp Đạo. TÁI CẦU:
THI:
TÔN quân gặp đặng các chư Hiền,
VÕ đức văn nhân của Thánh Tiên.
TỬ hậu bia danh muôn kiếp để,
GIÁNG cơ chuyện vãn chốn đàn tiền.
***
Đàn tiền học Đạo Đức Cao Tiên,Hứng giọt nhành dương tưới lửa phiền.
Một kiếp duyên may muôn kiếp hưởng,
Thanh nhàn Tiên cảnh cõi thiên nhiên.
Từ ngày Bần tăng xuống thế, biết bao nhiêu những nỗi khó khăn, cũng vì mưu của Tà thần Tinh quái theo hại Bần tăng.
Nền Đạo của Chí Tôn ngày nay cũng vậy. Các em ráng giữ gìn cho lắm, kẻo uổng kiếp sanh nầy rồi làm trò cười, biết bao phen mới rửa sạch. Cửa Đạo là chiếc thuyền từ của Đức Chí Tôn, hiền nhân hay gian trá đều chứa cả, nên hư tự kẻ lọc lừa….
Nếu lấy linh tâm sáng suốt thì đặng nhiễm lấy Đạo mầu, còn mê muội thì vào nơi u thẳm. Phước phước phần phần, hai đường chọn lấy, đừng để sau về đến Thiên cung, khi hội hiệp lại ra tuồng hổ thẹn, còn nơi mặt thế, chúng lại chê cười.
Hỏi thử các bạn, nên làm sao cho xứng đáng là môn đệ của Ngọc Hư Cung?
Thăng.
Bắt đầu từ Chợ Thiên Vương về Tòa Thánh bởi “nhứt nhựt vô
vương đảo huyền thiên hạ”, ngôi giáo tông anh cả nơi Đền Thánh đạo Cao Đài chưa
có người ngồi, cho nên lúc ấy “Tam thập lục động quỷ kéo về phá nội ô Tòa Thánh
dữ lắm” (36 chi phái Cao Đài) sau đó sẽ có “các đấng anh hào đứng ra thành tâm
giúp đạo”. Những sở hành phi thường thế gian hiếm thấy, của các bậc nguyên nhân
thiên tài thế giới, trong số ấy có hàng Thập Nhị Bảo Quân, đúng với thiên thơ
tiền định sẽ hướng về Tây phương cực lạc Tòa Thánh Tây Ninh, vùng Thánh địa Việt
Nam đặng trừ an nội loạn mới thành thiên thơ.
Đức phật Chuẩn Đề khi còn tại thế có cho biết năm 1984 “Đức
Hộ Pháp giáng linh tại Hạo Nhiên pháp Thiên”, và Đức Ngài cũng dạy: “người ta
đông nhưng không có quyền năng, còn mình tuy ít mà có đủ quyền năng”, nhờ những
lời dạy rất gần gũi và nồng nàn ấy mà những tín đồ quèn Hạo Nhiên Tăng cũng an ủi
được phần nào, trên con đường chánh nghĩa thực hiện đạo đời tương đắc, vạn linh
hiệp chí linh từ ấy đến nay.
▪ Sau khi mở Đạo, Đức Hộ pháp cho biết trước: “Thành Đạo
thành ngoài thành vô. Tín đồ quèn làm thành Đạo. Thầy chọn rặt nguyên nhân để lập
đời.”
Việt Nam có câu: Trai khôn tìm vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân. Vậy ý nói, Chợ Thiên Vương là một trường thi đem bày ra giữa chợ trước mắt nhơn sanh, quang minh chánh đại, công bằng bác ái trên mặt trận trí thức tinh thần, dành cho các bậc nguyên nhân anh hào tuấn kiệt xuất hiện kỳ ba, cứu thế độ nhơn hành chánh pháp. Mới đúng thực là giống dân Thần thông nhơn, đáng mặt là những đứa con của Đức từ phụ Di Lạc Vương Phật, thay trời cầm quyền trị thế, trừ tà, diệt mị, hộ chơn truyền, định quyết chương trình Long Hoa Đại Hội tại Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh TN, là ông anh cả chủ tông đường thứ ba Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Đoạn đường Trường Xuân Lộ
Từ Thiên Thọ Lộ, qua Trường Xuân Lộ, rồi mới đến Đoạn Trần Kiều. Muốn đi qua Đoạn Trần Kiều thì phải dừng lại nơi Ao Thất Bửu, vào đó tắm để gội cho sạch hết bợn trần:
“Ao Thất Bửu gội mình sạch tục.”
Gội sạch bợn trần rồi thì bước lên Đoạn Trần Kiều là kể từ đây giũ sạch nợ trần, nhắm Thiên Hỷ Động đi tới, qua Pháp Luân Lộ thì vào Thiên Hỷ Động, trong đó có Trí Huệ Cung là cửa đi vào cõi TLHS, cũng là bến giải thoát của toàn thiên hạ. Trên Đoạn Trần Kiều, Đức Phạm Hộ Pháp có cho xây một cái nhà mát để du khách dừng chân hóng gió. Trên nóc nhà mát, Đức Ngài dạy ban thợ hồ đắp một con hạc lớn bằng xi măng cốt sắt, trên lưng chở hai thầy trò Tân Dân Tử và Tôn Võ Tử. Đức Ngài dặn đắp con hạc ngó ngay về Trí Huệ Cung, nhưng Đức Ngài không giải thích lý do. Sau đó, Đức Phạm Hộ Pháp đi Nhựt Bổn để rước tro thiêu xác của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để về thờ nơi Báo Quốc Từ.
Khi Đức Phạm Hộ Pháp trở về, Ngài đến nhà mát coi thử công thợ làm tới đâu, thấy Tá Lý Trần Văn Lành và nhóm thợ đắp con hạc xong rồi, nhưng con hạc lại hướng về phía ngược lại. Đức Phạm Hộ Pháp nói:
– Khi đi, Bần đạo có dặn đắp con hạc ngó vô Trí Huệ Cung, trên lưng có chở thầy trò Tân Dân Tử và Tôn Võ Tử. Ấy là thể pháp tượng trưng rước khách phàm nhập cõi Thánh, mấy em lại đắp con hạc trở đầu ra, như vậy là chở Thánh lâm phàm. Một việc quên của mấy em mà làm ra rất ngộ nghỉnh. Tá Lý Trần Văn Lành bạch cùng Đức Hộ Pháp:
– Bạch Thầy, để mấy con sửa lại. Thầy dạy mà mấy con quên vì cố làm cho mau rồi.
Đức Ngài nói:
– Mấy em làm lỡ rồi, thôi để y như vậy, dầu có sửa lại cũng khó lắm vì đã làm rồi. Việc nầy thiêng liêng khiến vậy, cũng là phương pháp tượng trưng bực tu chơn, dầu có lâm phàm mà thắng nổi cái phàm thì mới là Thánh, bằng chẳng thắng được phàm thì vẫn là phàm. Đáng lý cái nhà mát và cây cầu nầy (Đoạn Trần Kiều) phải đúc cho thật chắc, vì không làm được như thế nên phải tạm làm bằng cây, sợ e ngày kia có kẻ cố tâm phá hoại hư sập, tức nhiên kẻ ấy muốn cắt con đường Phàm Thánh thì tai hại cho kẻ phá hoại ấy.
Vậy cái nhà mát và cây cầu nầy giao cho Ban Kỳ Lão Phạm Môn và Hội Thánh Phước Thiện bảo thủ thế nào cho tồn tại để nối liền cho khách phàm nhập Thánh.
Đoạn trần kiều
Đoạn: phế bỏ, dứt hẳn. Trần: cõi đời. Kiều: cây cầu.
Vậy Đoạn Trần kiều là cây cầu Đoạn Trần. Ý nói các bậc nguyên nhân xuất hiện sở hành từ cửa Ải địa đầu Thiên Thọ Lộ, tùng theo chủ quyền đạo được chơn truyền đến cầu Đoạn Trần phải chọn một trong hai con đường đạo hay đời. Hễ theo đạo, thì xuống Ao Thất Bửu gội mình cho sạch cái phàm tâm tục tánh thất tình lục dục, đặng phế đời hành đạo mới bước qua cầu; còn nếu còn mê đời thì đáo đầu trở lại chợ Thiên Vương như Tôn Võ Tử lỡ đời thất đạo, tu hữu công mà thành chẳng đặng thành. Trước Trí Huệ Cung, Đoạn Trần Kiều bắc ngang qua một con rạch nhỏ được gọi là Suối Đoạn Trần, chảy vào Rạch Rễ và đổ ra sông Cẩm Giang. Con rạch ấy tượng trưng Sông mê; hay còn gọi là sông Ngân Hà khổ hải, ô trượt tội tình.
“Huệ quang chiếu thấu chánh tà,
Chèo thuyền Bát Nhã, Ngân Hà độ sanh. ”
Đoạn Trần Kiều, trên TLHS gọi là cầu Bát Quái Đài
“Lạ thay, cầu ấy không phải bằng cây ván, mà nó là tám đạo hào-quang. Cầu ấy bắt ngang bờ. Dưới cầu ấy chúng ta ngó thấy dường như một Bích-Hải nước xao, sóng dợn như biển sôi nổi đó vậy. Trong tám góc chúng ta thấy đó, chắc cả thảy đều để ý nơi góc ta đến, thấy nhơn-loại đi tới đi lui nhiều hơn hết.
Lạ thay, cầu ấy rất huyền-diệu, ai đứng đó được mới biết mình nhập vô Bát-Quái-Đài. Lúc để bước lên cầu, cầu ấy chuyển đi, làm cho chúng ta phải yếu, đi không đặng. Chúng ta muốn thối bộ. Khi chơn vừa bước tới chính mình ta ngó thấy dường như mình yếu đi nhưng người nào bước tới cũng đặng. Đi được nửa chừng nếu không đủ thiên-vị, hay vì tội tình oan gia nghiệt chướng chi mà chúng ta đã đào tạo nơi mặt thế này, chúng ta đi tới nữa cầu sẽ bị lọt xuống Bích-Hải. Lọt xuống đó rồi ta thấy hồi lúc đi, còn ở trên cầu, chúng ta thấy hình ảnh còn đẹp-đẽ tốt tươi, hể lọt xuống Bích-Hải rồi chúng ta thấy hình thù đen thui dị hợm lắm, ta không thể tưởng-tượng, còn hơn loài mọi kia tối đen như vậy. Tội nghiệp thay khi ta thấy nơi ấy, có nhiều bạn đồng tu với ta, những bạn chung sống với ta ở trong lòng Đức Chí-Tôn đó vậy. Chúng ta may duyên được ngó thấy mình ngồi trên chỗ cao trọng để làm người khán giả, dòm thấy người bạn của chúng ta lâm vào cảnh ấy, dầu ai vững tâm thế nào tôi tưởng khó cầm giọt lụy đặng. Ngộ-nghỉnh có một điều là không khi nào sai chạy. Không có điều nào qua Pháp-Luật vô biên ấy, chúng ta ngó thấy mỗi việc nơi thế gian này ta nên lấy làm bài học đặng định tâm chúng ta, đặng tu tỉnh tinh-thần ta cho nên chí thiện, chí Thánh, hầu xứng đáng làm phần-tử Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn, đừng mộng tưởng một hành tàng nào trong kiếp sống thế-gian này của ta có thể khuất lấp qua khỏi quyền Thiêng-Liêng của Đức Chí-Tôn được.”
Trí Huệ Cung (Thiên Hỉ Động)
Trí Huệ Cung tọa lạc tại ấp Trường Xuân, xã Trường Hòa, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Thuở ấy, Thiên Thọ Lộ được trãi đá đỏ kéo dài từ ngã ba đến Trường Lưu, Trường Xuân, Trường Cửu…
Đức Phạm Hộ Pháp khởi tạo Trí Huệ Cung và khai mở vùng phụ cận vào cuối năm Đinh Hợi (1947) và ngày hoàn thành là ngày Đức Phạm Hộ Pháp trấn pháp Trí Huệ Cung, 15-12-Canh Dần (dl 22-1-1951).
Đức Phạm Hộ Pháp có đọc một bài diễn văn tại Trí Huệ Cung ngày 17-8-Tân Mão (dl 17-9-1951), có sự hiện diện của ông Tỉnh Trưởng tỉnh Tây Ninh, để giới thiệu với ông Tỉnh Trưởng và chánh quyền đời, vùng đất nơi Trí Huệ Cung do Đạo Cao Đài khai mở, nay giao lại cho chánh quyền đời để tiếp tục mở mang rộng lớn thêm.
Sau đây xin trích một đoạn trong bài Diễn văn nầy: “Từ ngày Đức Chí Tôn giáng cơ mở đạo đến nay, phần đông con cái của Người đến nương sống nơi đây, mới đủ sức lực mở mang điền địa. Bần đạo thấy đặng sự thật là: Ta có đủ điền địa phì nhiêu mà nuôi dân phu phỉ, nhưng phú hữu của nó chưa quá khác, vì ai cũng biết lâm sản của nó mà không nỡ phá hại đặng mở mang điền địa. Cả lợi tức trong một hạn lệ từ năm mở tới 10 năm sau đặng thâu một mối lợi tân khai tân khẩn, vẫn bao giờ cũng làm cho chánh phủ cầm quyền buổi nọ e dè, không nhứt quyết. Bần đạo vì phải tầm phương sanh sống cho Đạo nên đã mạo hiểm từ trên 20 năm, thắng nỗi khó khăn trở lực, ngày nay điền địa bổn xứ ta khai mở quá nhiều rồi, tưởng khi trong năm mười năm nữa đây, dân bổn tỉnh khỏi phải mua gạo lúa miền Trung và Hậu giang, mà sống vì nguồn lợi sẽ phu phỉ. Khoảng đất ngày nay đặng tên Thiên Hỉ Động nầy, trước 20 năm, đây là rừng rậm, nên đã xin khai khẩn, song họ chỉ ăn cây và củi của nó, chớ không đủ sức mở mang nổi.
Bần đạo thấy địa thế của nó rất nên tốt đẹp và đất địa của nó là thứ phì nhiêu, nên nay khai mở cho thành khoảnh, cái đẹp của nó, hôm nay ta vui thấy đây đã đáng giá, trót cả 10 năm nhọc nhằn. Bần đạo đã cỡi ngựa ruồng khắp vùng nầy. Được hiểu rằng đất nầy sẽ trở nên quý báu cho dân bổn xứ, xóm Trường Hòa, Ngài (Đức Hộ Pháp gọi ông Tỉnh Trưởng Tây Ninh) đã thấy rõ là một làng rừng, chớ không phải mảy may là thành thị, mà hôm nay đã trở nên một đô thị tối tân và đẹp đẽ, chẳng phải đẹp mà thôi, mà nó sẽ trở nên giàu có nữa mà chớ. Bởi thế cho nên, Bần đạo mở con đường An Nhàn Lộ và bắc cây cầu Đoạn Trần Kiều, đặng làm cho ngọn suối không còn là chướng ngại vật nữa, mà là con kinh thiên nhiên giúp cho sự mở mang vườn ruộng. Con đường nầy liên hiệp với con đường sẽ mở từ Trường Hòa vô vùng Thiên Hỷ Động mà Bần đạo đặt tên là Trường Xuân Lộ, rồi lại hiệp luôn với con đường ra Cẩm Giang mà Bần đạo lại đặt tên là Thiên Thọ Lộ. Các cơ thể của Bần đạo đã gầy nên là quyền xã hội, tức là quyền của chánh phủ và của dân, nên nay Bần đạo phải làm lễ mở các tân lộ ấy và giao nó lại cho Ngài sử dụng.Cử chỉ ấy chẳng qua là Bần đạo thi hành y theo chơn pháp Cao Đài giáo, khi đời chịu thống khổ thì Đạo phải giúp đời. Phận sự của Bần đạo đã xong, bây giờ là phận sự của quan lớn. Dân đã cho Bần đạo hiểu rằng, con đường mới nầy nó sẽ cho khách du hành đặng 4000 thước tây gần hơn chúng ta sẽ đi trên hai con đường lộ ấy đặng về Châu Thành, coi có quả vậy chăng?”
Thiên Hỉ Động có vòng rào vuông vức rộng lớn bốn bên, mỗi bên có xây một cổng lớn ra vào, trên cổng có tấm bảng đề chữ Thiên Hỉ Động, hai cột cổng có cẩn đôi liễn TRÍ HUỆ:
Trí định thiên lương quy nhứt bổn,
Huệ thông đạo pháp độ quần sanh.
Đến Thiên Hỷ Động Trí Huệ Cung là Trung Cung Hành thổ, nơi đó là cung Thánh cửa Ải địa đầu của Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống tại thế.
Trí Huệ Cung là cửa vào con đường TLHS:
TĐ. Đức Hộ Pháp ngày 16-12-Canh Dần và ngày 26-12-Canh Dần (dl 2-2-1951), xin trích ra sau đây: “Ngày nay, Đức Chí Tôn đã mở cho chúng ta một con đường TLHS và Bần đạo đã vâng mạng lịnh Đức Ngài tạo dựng một bến giải thoát cho toàn thể nhơn loại trên mặt địa cầu nầy. Bần đạo nói: Từ đây, kể từ ngày nay, cửa thiêng liêng của Đạo đã mở rộng. Bần đạo kêu toàn thể con cái Đức Chí Tôn, ai hiểu biết mình đứng trong hàng phẩm Cửu nhị ức nguyên nhân (92 ức nguyên nhân) hãy tỉnh mộng lại đặng về cùng Đức Chí Tôn.Cửa nầy là cửa của các người đến đoạt pháp, đặng giải thoát lấy mình, đến trong lòng Đức Chí Tôn, vì Đức Chí Tôn đã đưa tay ra nâng đỡ mà chúng ta không đến, không tưởng nghĩ đến thì sau nầy ắt sẽ bị đọa lạc nơi cõi Phong đô. Giờ phút ấy không còn trách Đức Chí Tôn rằng: không thương yêu con cái của Người, không đem cơ quan Tận độ chúng sanh để nơi mặt địa cầu nầy cứu vớt nữa.”"Trí Huệ Cung là một cơ quan tận độ chúng sanh đã xuất hiện nơi cửa Đạo Cao Đài nầy. Bần đạo nói rằng: nó không phải của ta, của đặc biệt của chúng ta, mà nó là của toàn thể nhơn loại nơi mặt địa cầu nầy, bởi vì nó tượng trưng hình ảnh Chí Linh của Đức Chí Tôn nơi thế nầy, mà hể tượng trưng hình ảnh Chí Linh tức nhiên không có quyền nào nắm nó được, vì nó là của đặc biệt của toàn thể nhơn loại, tức nhiên toàn thể con cái Đức Chí Tôn. Nó không có phép phân biệt đảng phái, tôn giáo, hay nòi giống nơi mặt địa cầu nầy.Cửa Thiên Hỷ Động là cửa TLHS của toàn thể các đẳng chơn linh, nên nó không chịu thúc phược hay là nô lệ cho một tư tưởng nào, hơn là tượng trưng cái quyền vô tận vô đối của Đấng Chí Linh, hằng tạo dựng đại nghiệp cho con cái của Ngài nơi mặt địa cầu nầy, tức nhiên toàn thể nhơn loại đó vậy.”"Bần đạo cả tiếng kêu con cái Đức Chí Tôn, nhứt là Cửu nhị ức nguyên nhân, tỉnh mộng lại, ngó nơi Trí Huệ Cung, phải vào cửa ấy mới đoạt đặng mà thôi, đoạt cơ giải thoát đặng, mới nhập vào cửa TLHS mà Chí Tôn đã tạo dựng riêng biệt dành để cho mọi người.”
Giải Khổ Kiều
Bí pháp là cơ quan giải thoát, nơi dành cho hạng nguyên nhân đạo tâm tỉnh mộng xuất hiện sở hành phục nguyên thánh thể; phải giải thi thoát khổ, phế đời hành đạo:
Nắm cây huệ kiếm gươm thần,
Dứt tan sự thế nợ trần từ đây.
Nhẹ phơi phới bước qua cầu giải khổ đặng dục tấn tinh thần đến Trí Giác Cung kiến diện bà mẹ sanh của chúng ta, cùng nhìn nhau là anh em bạn đồng sanh đặng trả nợ tình cho nhau.
Cung Trí giác trụ tinh thần,
Hườn hư mầu nhiệm thoát trần đăng tiên.
– Cung Trí Giác trụ tinh thần: là phải thi hành nhơn nghĩa.
– Hườn hư mầu nhiệm thoát trần đăng tiên: mới đủ tam bửu (tinh+khí+thần) hiệp nhứt phục nguyên thánh thể (thần, thánh, tiên, phật) tại thế, lên bảng phong thánh kỳ ba.
Trí Giác Cung, cũng là nơi ngự của Phật Mẫu Diêu Trì Tạo Hóa Huyền Thiên trong cảnh TLHS, mà Phật Chuẩn Đề đã để lại một bài thi cho đoàn hậu tấn lưu tâm trên con đường quy pháp, mượn thế Thiên Thọ Lộ đặng giác thế hiện nay :
TRẢ OAN NGHIỆT
“Oan khiên chịu trả buổi nầy thôi,
Phải trả cho xong nợ ấy rồi.
Cựu vị ngôi xưa về mới đặng,
Do quyền Tạo hóa sổ thầy bôi.
Thầy bôi nợ những kẻ trung thành,
Biết chán đời xảo thế lanh.
Lanh biến thiêng liêng dời cõi tục,
Tục phàm chẳng đắm sử nêu danh.
Danh nêu cũng tại chốn nầy đây,
Đây dắt anh em cả một bầy.
Bầy lũ chiên lành mau giác ngộ,
Ngộ nhau trở lại chốn triều Tây.”
Trí Giác Cung
Cung: tinh thần; Giác: đúng; Trí: sự nhận thức.
– Tinh thần Thể pháp: Trí Giác Cung là sự nhận thức đúng về mặt tinh thần đạo đức. – Với Bí pháp: Trí Giác Cung là biết bà mẹ sanh ra mình là ai.
Thế thì khi tinh thần ta được trí giác nơi Diêu Trì Cung trên con đường Thiêng liêng Hằng Sống tại thế gian nầy, đương nhiên chúng ta phải biết bà mẹ sanh tức đấng tạo hóa cái khối tinh thần thiên lương buổi Tam kỳ của chúng ta là Đức Hộ Pháp, đứng trước chữ Khí thuộc pháp đấng chủ về pháp. “Nếu không biết đấng ấy thì đừng trông mong biết mình, mà mình không biết mình thì không còn ai biết hết”. Đức Hộ Pháp trách: Civa là Pháp, pháp là quyền năng của Phật mẫu, Phật mẫu là gì mà không biết ? có con mắt mà không biết Phật mẫu là gì? Đức Chí Tôn đã lộ thiên cơ: ban sơ Phật mẫu đến ngự HTĐ, bà làm mẹ chữ Khí, chữ Khí có tương quan trong HTĐ, bà đến tạo cái tòa ngự của người rồi sau mới lập (chơn khí Đức Lý) Cửu Trùng Đài.
Hiệp Thiên Đài là Đài hiệp cùng Trời, cái đài hữu hình Phạm Công Tắc hiệp một cùng bà Trời Phật mẫu Hộ pháp Diêu Trì “Chơn linh phối nhứt thân di thánh hình”. Đức Ngài còn nói rõ: “Phạm Công Tắc là con kỵ vật, còn Hộ pháp là người cỡi; Phạm Công Tắc là tôi, còn Hộ pháp là ông chủ, cho nên buộc con ngựa phải tuân mạng lịnh của ông chủ nó chớ!”. Hỏi thử, con mà không biết mẹ thì làm sao quả quyết rằng đó là cha ruột của mình? Thì lẽ đương nhiên phải là một đứa con mồ côi cô quạnh lạc loài không cha không mẹ, những hạng ấy gọi là hóa nhân. Các bậc Nguyên nhân thiên mạng biết rõ cha mẹ mình và được cha mẹ giáo hóa chơn truyền bí pháp, đi ra từ Bát Quái Đài thi hành phận sự.
Thiên cung xuất vạn linh tùng pháp,
Lập tam tài định kiếp hòa căn.
Chuyển luân định phẩm cao thăng,
Hư Vô Bát Quái trị thần quy nguyên.
Đã đủ đầy minh chứng từ khi mở đạo, chỉ có tin hay không tin mà thôi.
Khi tinh thần ta đã Trí giác, cùng nhìn nhau và hiệp một trong nguyên căn:
Thiên thời, địa lợi đôi điều sẵn,
Chỉ có hòa nhân mới hiệp quần.
Chơn khí của Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa là “Thập Nhị Thời quân” tại Hiệp Thiên Đài, được Chơn linh Đức Hộ pháp giao phận sự làm Chủ Trưởng Cơ quan Phước Thiện trấn giữ tại Cung Trí Giác. Ngày giờ nầy Đức Ngài Khai Pháp đã giáng linh chuyển kiếp thay xác, trở nên Chơn linh phục nguyên Thánh thể trong đoàn “Thập Nhị Bảo Quân” nơi Cửu Trùng Đài “Hội thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam”, đặng thay thế ngôn ngữ cho Đức Hộ pháp độ dẫn các nguyên nhân được Trí Giác, tỉnh mộng thi hành nhơn nghĩa, thiên hạ thái bình, mở Cực Lạc Thế giới, quyết định chương trình Long Hoa Đại Hội tại Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh Tây Ninh. Làm người tại mặt thế nầy duy chỉ có một chữ thương mà thôi, có thương mới có hòa, có hòa mới có hiệp, thương yêu vô tận là chìa khóa mở cửa Bát quái đài (Đền thánh) tại thế nầy, thực hiện đạo đời tương đắc tiến đến đại đồng, lấy chữ nghĩa làm đầu, mới mong tạo thời chuyển thế, lập đời thánh đức.
Việt Nam có câu: Trai khôn tìm vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân. Vậy ý nói, Chợ Thiên Vương là một trường thi đem bày ra giữa chợ trước mắt nhơn sanh, quang minh chánh đại, công bằng bác ái trên mặt trận trí thức tinh thần, dành cho các bậc nguyên nhân anh hào tuấn kiệt xuất hiện kỳ ba, cứu thế độ nhơn hành chánh pháp. Mới đúng thực là giống dân Thần thông nhơn, đáng mặt là những đứa con của Đức từ phụ Di Lạc Vương Phật, thay trời cầm quyền trị thế, trừ tà, diệt mị, hộ chơn truyền, định quyết chương trình Long Hoa Đại Hội tại Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh TN, là ông anh cả chủ tông đường thứ ba Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Đoạn đường Trường Xuân Lộ
Từ Thiên Thọ Lộ, qua Trường Xuân Lộ, rồi mới đến Đoạn Trần Kiều. Muốn đi qua Đoạn Trần Kiều thì phải dừng lại nơi Ao Thất Bửu, vào đó tắm để gội cho sạch hết bợn trần:
“Ao Thất Bửu gội mình sạch tục.”
Gội sạch bợn trần rồi thì bước lên Đoạn Trần Kiều là kể từ đây giũ sạch nợ trần, nhắm Thiên Hỷ Động đi tới, qua Pháp Luân Lộ thì vào Thiên Hỷ Động, trong đó có Trí Huệ Cung là cửa đi vào cõi TLHS, cũng là bến giải thoát của toàn thiên hạ. Trên Đoạn Trần Kiều, Đức Phạm Hộ Pháp có cho xây một cái nhà mát để du khách dừng chân hóng gió. Trên nóc nhà mát, Đức Ngài dạy ban thợ hồ đắp một con hạc lớn bằng xi măng cốt sắt, trên lưng chở hai thầy trò Tân Dân Tử và Tôn Võ Tử. Đức Ngài dặn đắp con hạc ngó ngay về Trí Huệ Cung, nhưng Đức Ngài không giải thích lý do. Sau đó, Đức Phạm Hộ Pháp đi Nhựt Bổn để rước tro thiêu xác của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để về thờ nơi Báo Quốc Từ.
Khi Đức Phạm Hộ Pháp trở về, Ngài đến nhà mát coi thử công thợ làm tới đâu, thấy Tá Lý Trần Văn Lành và nhóm thợ đắp con hạc xong rồi, nhưng con hạc lại hướng về phía ngược lại. Đức Phạm Hộ Pháp nói:
– Khi đi, Bần đạo có dặn đắp con hạc ngó vô Trí Huệ Cung, trên lưng có chở thầy trò Tân Dân Tử và Tôn Võ Tử. Ấy là thể pháp tượng trưng rước khách phàm nhập cõi Thánh, mấy em lại đắp con hạc trở đầu ra, như vậy là chở Thánh lâm phàm. Một việc quên của mấy em mà làm ra rất ngộ nghỉnh. Tá Lý Trần Văn Lành bạch cùng Đức Hộ Pháp:
– Bạch Thầy, để mấy con sửa lại. Thầy dạy mà mấy con quên vì cố làm cho mau rồi.
Đức Ngài nói:
– Mấy em làm lỡ rồi, thôi để y như vậy, dầu có sửa lại cũng khó lắm vì đã làm rồi. Việc nầy thiêng liêng khiến vậy, cũng là phương pháp tượng trưng bực tu chơn, dầu có lâm phàm mà thắng nổi cái phàm thì mới là Thánh, bằng chẳng thắng được phàm thì vẫn là phàm. Đáng lý cái nhà mát và cây cầu nầy (Đoạn Trần Kiều) phải đúc cho thật chắc, vì không làm được như thế nên phải tạm làm bằng cây, sợ e ngày kia có kẻ cố tâm phá hoại hư sập, tức nhiên kẻ ấy muốn cắt con đường Phàm Thánh thì tai hại cho kẻ phá hoại ấy.
Vậy cái nhà mát và cây cầu nầy giao cho Ban Kỳ Lão Phạm Môn và Hội Thánh Phước Thiện bảo thủ thế nào cho tồn tại để nối liền cho khách phàm nhập Thánh.
Đoạn trần kiều
Đoạn: phế bỏ, dứt hẳn. Trần: cõi đời. Kiều: cây cầu.
Vậy Đoạn Trần kiều là cây cầu Đoạn Trần. Ý nói các bậc nguyên nhân xuất hiện sở hành từ cửa Ải địa đầu Thiên Thọ Lộ, tùng theo chủ quyền đạo được chơn truyền đến cầu Đoạn Trần phải chọn một trong hai con đường đạo hay đời. Hễ theo đạo, thì xuống Ao Thất Bửu gội mình cho sạch cái phàm tâm tục tánh thất tình lục dục, đặng phế đời hành đạo mới bước qua cầu; còn nếu còn mê đời thì đáo đầu trở lại chợ Thiên Vương như Tôn Võ Tử lỡ đời thất đạo, tu hữu công mà thành chẳng đặng thành. Trước Trí Huệ Cung, Đoạn Trần Kiều bắc ngang qua một con rạch nhỏ được gọi là Suối Đoạn Trần, chảy vào Rạch Rễ và đổ ra sông Cẩm Giang. Con rạch ấy tượng trưng Sông mê; hay còn gọi là sông Ngân Hà khổ hải, ô trượt tội tình.
“Huệ quang chiếu thấu chánh tà,
Chèo thuyền Bát Nhã, Ngân Hà độ sanh. ”
Đoạn Trần Kiều, trên TLHS gọi là cầu Bát Quái Đài
“Lạ thay, cầu ấy không phải bằng cây ván, mà nó là tám đạo hào-quang. Cầu ấy bắt ngang bờ. Dưới cầu ấy chúng ta ngó thấy dường như một Bích-Hải nước xao, sóng dợn như biển sôi nổi đó vậy. Trong tám góc chúng ta thấy đó, chắc cả thảy đều để ý nơi góc ta đến, thấy nhơn-loại đi tới đi lui nhiều hơn hết.
Lạ thay, cầu ấy rất huyền-diệu, ai đứng đó được mới biết mình nhập vô Bát-Quái-Đài. Lúc để bước lên cầu, cầu ấy chuyển đi, làm cho chúng ta phải yếu, đi không đặng. Chúng ta muốn thối bộ. Khi chơn vừa bước tới chính mình ta ngó thấy dường như mình yếu đi nhưng người nào bước tới cũng đặng. Đi được nửa chừng nếu không đủ thiên-vị, hay vì tội tình oan gia nghiệt chướng chi mà chúng ta đã đào tạo nơi mặt thế này, chúng ta đi tới nữa cầu sẽ bị lọt xuống Bích-Hải. Lọt xuống đó rồi ta thấy hồi lúc đi, còn ở trên cầu, chúng ta thấy hình ảnh còn đẹp-đẽ tốt tươi, hể lọt xuống Bích-Hải rồi chúng ta thấy hình thù đen thui dị hợm lắm, ta không thể tưởng-tượng, còn hơn loài mọi kia tối đen như vậy. Tội nghiệp thay khi ta thấy nơi ấy, có nhiều bạn đồng tu với ta, những bạn chung sống với ta ở trong lòng Đức Chí-Tôn đó vậy. Chúng ta may duyên được ngó thấy mình ngồi trên chỗ cao trọng để làm người khán giả, dòm thấy người bạn của chúng ta lâm vào cảnh ấy, dầu ai vững tâm thế nào tôi tưởng khó cầm giọt lụy đặng. Ngộ-nghỉnh có một điều là không khi nào sai chạy. Không có điều nào qua Pháp-Luật vô biên ấy, chúng ta ngó thấy mỗi việc nơi thế gian này ta nên lấy làm bài học đặng định tâm chúng ta, đặng tu tỉnh tinh-thần ta cho nên chí thiện, chí Thánh, hầu xứng đáng làm phần-tử Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn, đừng mộng tưởng một hành tàng nào trong kiếp sống thế-gian này của ta có thể khuất lấp qua khỏi quyền Thiêng-Liêng của Đức Chí-Tôn được.”
Trí Huệ Cung (Thiên Hỉ Động)
Trí Huệ Cung tọa lạc tại ấp Trường Xuân, xã Trường Hòa, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Thuở ấy, Thiên Thọ Lộ được trãi đá đỏ kéo dài từ ngã ba đến Trường Lưu, Trường Xuân, Trường Cửu…
Đức Phạm Hộ Pháp khởi tạo Trí Huệ Cung và khai mở vùng phụ cận vào cuối năm Đinh Hợi (1947) và ngày hoàn thành là ngày Đức Phạm Hộ Pháp trấn pháp Trí Huệ Cung, 15-12-Canh Dần (dl 22-1-1951).
Đức Phạm Hộ Pháp có đọc một bài diễn văn tại Trí Huệ Cung ngày 17-8-Tân Mão (dl 17-9-1951), có sự hiện diện của ông Tỉnh Trưởng tỉnh Tây Ninh, để giới thiệu với ông Tỉnh Trưởng và chánh quyền đời, vùng đất nơi Trí Huệ Cung do Đạo Cao Đài khai mở, nay giao lại cho chánh quyền đời để tiếp tục mở mang rộng lớn thêm.
Sau đây xin trích một đoạn trong bài Diễn văn nầy: “Từ ngày Đức Chí Tôn giáng cơ mở đạo đến nay, phần đông con cái của Người đến nương sống nơi đây, mới đủ sức lực mở mang điền địa. Bần đạo thấy đặng sự thật là: Ta có đủ điền địa phì nhiêu mà nuôi dân phu phỉ, nhưng phú hữu của nó chưa quá khác, vì ai cũng biết lâm sản của nó mà không nỡ phá hại đặng mở mang điền địa. Cả lợi tức trong một hạn lệ từ năm mở tới 10 năm sau đặng thâu một mối lợi tân khai tân khẩn, vẫn bao giờ cũng làm cho chánh phủ cầm quyền buổi nọ e dè, không nhứt quyết. Bần đạo vì phải tầm phương sanh sống cho Đạo nên đã mạo hiểm từ trên 20 năm, thắng nỗi khó khăn trở lực, ngày nay điền địa bổn xứ ta khai mở quá nhiều rồi, tưởng khi trong năm mười năm nữa đây, dân bổn tỉnh khỏi phải mua gạo lúa miền Trung và Hậu giang, mà sống vì nguồn lợi sẽ phu phỉ. Khoảng đất ngày nay đặng tên Thiên Hỉ Động nầy, trước 20 năm, đây là rừng rậm, nên đã xin khai khẩn, song họ chỉ ăn cây và củi của nó, chớ không đủ sức mở mang nổi.
Bần đạo thấy địa thế của nó rất nên tốt đẹp và đất địa của nó là thứ phì nhiêu, nên nay khai mở cho thành khoảnh, cái đẹp của nó, hôm nay ta vui thấy đây đã đáng giá, trót cả 10 năm nhọc nhằn. Bần đạo đã cỡi ngựa ruồng khắp vùng nầy. Được hiểu rằng đất nầy sẽ trở nên quý báu cho dân bổn xứ, xóm Trường Hòa, Ngài (Đức Hộ Pháp gọi ông Tỉnh Trưởng Tây Ninh) đã thấy rõ là một làng rừng, chớ không phải mảy may là thành thị, mà hôm nay đã trở nên một đô thị tối tân và đẹp đẽ, chẳng phải đẹp mà thôi, mà nó sẽ trở nên giàu có nữa mà chớ. Bởi thế cho nên, Bần đạo mở con đường An Nhàn Lộ và bắc cây cầu Đoạn Trần Kiều, đặng làm cho ngọn suối không còn là chướng ngại vật nữa, mà là con kinh thiên nhiên giúp cho sự mở mang vườn ruộng. Con đường nầy liên hiệp với con đường sẽ mở từ Trường Hòa vô vùng Thiên Hỷ Động mà Bần đạo đặt tên là Trường Xuân Lộ, rồi lại hiệp luôn với con đường ra Cẩm Giang mà Bần đạo lại đặt tên là Thiên Thọ Lộ. Các cơ thể của Bần đạo đã gầy nên là quyền xã hội, tức là quyền của chánh phủ và của dân, nên nay Bần đạo phải làm lễ mở các tân lộ ấy và giao nó lại cho Ngài sử dụng.Cử chỉ ấy chẳng qua là Bần đạo thi hành y theo chơn pháp Cao Đài giáo, khi đời chịu thống khổ thì Đạo phải giúp đời. Phận sự của Bần đạo đã xong, bây giờ là phận sự của quan lớn. Dân đã cho Bần đạo hiểu rằng, con đường mới nầy nó sẽ cho khách du hành đặng 4000 thước tây gần hơn chúng ta sẽ đi trên hai con đường lộ ấy đặng về Châu Thành, coi có quả vậy chăng?”
Thiên Hỉ Động có vòng rào vuông vức rộng lớn bốn bên, mỗi bên có xây một cổng lớn ra vào, trên cổng có tấm bảng đề chữ Thiên Hỉ Động, hai cột cổng có cẩn đôi liễn TRÍ HUỆ:
Trí định thiên lương quy nhứt bổn,
Huệ thông đạo pháp độ quần sanh.
Đến Thiên Hỷ Động Trí Huệ Cung là Trung Cung Hành thổ, nơi đó là cung Thánh cửa Ải địa đầu của Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống tại thế.
Trí Huệ Cung là cửa vào con đường TLHS:
TĐ. Đức Hộ Pháp ngày 16-12-Canh Dần và ngày 26-12-Canh Dần (dl 2-2-1951), xin trích ra sau đây: “Ngày nay, Đức Chí Tôn đã mở cho chúng ta một con đường TLHS và Bần đạo đã vâng mạng lịnh Đức Ngài tạo dựng một bến giải thoát cho toàn thể nhơn loại trên mặt địa cầu nầy. Bần đạo nói: Từ đây, kể từ ngày nay, cửa thiêng liêng của Đạo đã mở rộng. Bần đạo kêu toàn thể con cái Đức Chí Tôn, ai hiểu biết mình đứng trong hàng phẩm Cửu nhị ức nguyên nhân (92 ức nguyên nhân) hãy tỉnh mộng lại đặng về cùng Đức Chí Tôn.Cửa nầy là cửa của các người đến đoạt pháp, đặng giải thoát lấy mình, đến trong lòng Đức Chí Tôn, vì Đức Chí Tôn đã đưa tay ra nâng đỡ mà chúng ta không đến, không tưởng nghĩ đến thì sau nầy ắt sẽ bị đọa lạc nơi cõi Phong đô. Giờ phút ấy không còn trách Đức Chí Tôn rằng: không thương yêu con cái của Người, không đem cơ quan Tận độ chúng sanh để nơi mặt địa cầu nầy cứu vớt nữa.”"Trí Huệ Cung là một cơ quan tận độ chúng sanh đã xuất hiện nơi cửa Đạo Cao Đài nầy. Bần đạo nói rằng: nó không phải của ta, của đặc biệt của chúng ta, mà nó là của toàn thể nhơn loại nơi mặt địa cầu nầy, bởi vì nó tượng trưng hình ảnh Chí Linh của Đức Chí Tôn nơi thế nầy, mà hể tượng trưng hình ảnh Chí Linh tức nhiên không có quyền nào nắm nó được, vì nó là của đặc biệt của toàn thể nhơn loại, tức nhiên toàn thể con cái Đức Chí Tôn. Nó không có phép phân biệt đảng phái, tôn giáo, hay nòi giống nơi mặt địa cầu nầy.Cửa Thiên Hỷ Động là cửa TLHS của toàn thể các đẳng chơn linh, nên nó không chịu thúc phược hay là nô lệ cho một tư tưởng nào, hơn là tượng trưng cái quyền vô tận vô đối của Đấng Chí Linh, hằng tạo dựng đại nghiệp cho con cái của Ngài nơi mặt địa cầu nầy, tức nhiên toàn thể nhơn loại đó vậy.”"Bần đạo cả tiếng kêu con cái Đức Chí Tôn, nhứt là Cửu nhị ức nguyên nhân, tỉnh mộng lại, ngó nơi Trí Huệ Cung, phải vào cửa ấy mới đoạt đặng mà thôi, đoạt cơ giải thoát đặng, mới nhập vào cửa TLHS mà Chí Tôn đã tạo dựng riêng biệt dành để cho mọi người.”
Giải Khổ Kiều
Bí pháp là cơ quan giải thoát, nơi dành cho hạng nguyên nhân đạo tâm tỉnh mộng xuất hiện sở hành phục nguyên thánh thể; phải giải thi thoát khổ, phế đời hành đạo:
Nắm cây huệ kiếm gươm thần,
Dứt tan sự thế nợ trần từ đây.
Nhẹ phơi phới bước qua cầu giải khổ đặng dục tấn tinh thần đến Trí Giác Cung kiến diện bà mẹ sanh của chúng ta, cùng nhìn nhau là anh em bạn đồng sanh đặng trả nợ tình cho nhau.
Cung Trí giác trụ tinh thần,
Hườn hư mầu nhiệm thoát trần đăng tiên.
– Cung Trí Giác trụ tinh thần: là phải thi hành nhơn nghĩa.
– Hườn hư mầu nhiệm thoát trần đăng tiên: mới đủ tam bửu (tinh+khí+thần) hiệp nhứt phục nguyên thánh thể (thần, thánh, tiên, phật) tại thế, lên bảng phong thánh kỳ ba.
Trí Giác Cung, cũng là nơi ngự của Phật Mẫu Diêu Trì Tạo Hóa Huyền Thiên trong cảnh TLHS, mà Phật Chuẩn Đề đã để lại một bài thi cho đoàn hậu tấn lưu tâm trên con đường quy pháp, mượn thế Thiên Thọ Lộ đặng giác thế hiện nay :
TRẢ OAN NGHIỆT
“Oan khiên chịu trả buổi nầy thôi,
Phải trả cho xong nợ ấy rồi.
Cựu vị ngôi xưa về mới đặng,
Do quyền Tạo hóa sổ thầy bôi.
Thầy bôi nợ những kẻ trung thành,
Biết chán đời xảo thế lanh.
Lanh biến thiêng liêng dời cõi tục,
Tục phàm chẳng đắm sử nêu danh.
Danh nêu cũng tại chốn nầy đây,
Đây dắt anh em cả một bầy.
Bầy lũ chiên lành mau giác ngộ,
Ngộ nhau trở lại chốn triều Tây.”
Trí Giác Cung
Cung: tinh thần; Giác: đúng; Trí: sự nhận thức.
– Tinh thần Thể pháp: Trí Giác Cung là sự nhận thức đúng về mặt tinh thần đạo đức. – Với Bí pháp: Trí Giác Cung là biết bà mẹ sanh ra mình là ai.
Thế thì khi tinh thần ta được trí giác nơi Diêu Trì Cung trên con đường Thiêng liêng Hằng Sống tại thế gian nầy, đương nhiên chúng ta phải biết bà mẹ sanh tức đấng tạo hóa cái khối tinh thần thiên lương buổi Tam kỳ của chúng ta là Đức Hộ Pháp, đứng trước chữ Khí thuộc pháp đấng chủ về pháp. “Nếu không biết đấng ấy thì đừng trông mong biết mình, mà mình không biết mình thì không còn ai biết hết”. Đức Hộ Pháp trách: Civa là Pháp, pháp là quyền năng của Phật mẫu, Phật mẫu là gì mà không biết ? có con mắt mà không biết Phật mẫu là gì? Đức Chí Tôn đã lộ thiên cơ: ban sơ Phật mẫu đến ngự HTĐ, bà làm mẹ chữ Khí, chữ Khí có tương quan trong HTĐ, bà đến tạo cái tòa ngự của người rồi sau mới lập (chơn khí Đức Lý) Cửu Trùng Đài.
Hiệp Thiên Đài là Đài hiệp cùng Trời, cái đài hữu hình Phạm Công Tắc hiệp một cùng bà Trời Phật mẫu Hộ pháp Diêu Trì “Chơn linh phối nhứt thân di thánh hình”. Đức Ngài còn nói rõ: “Phạm Công Tắc là con kỵ vật, còn Hộ pháp là người cỡi; Phạm Công Tắc là tôi, còn Hộ pháp là ông chủ, cho nên buộc con ngựa phải tuân mạng lịnh của ông chủ nó chớ!”. Hỏi thử, con mà không biết mẹ thì làm sao quả quyết rằng đó là cha ruột của mình? Thì lẽ đương nhiên phải là một đứa con mồ côi cô quạnh lạc loài không cha không mẹ, những hạng ấy gọi là hóa nhân. Các bậc Nguyên nhân thiên mạng biết rõ cha mẹ mình và được cha mẹ giáo hóa chơn truyền bí pháp, đi ra từ Bát Quái Đài thi hành phận sự.
Thiên cung xuất vạn linh tùng pháp,
Lập tam tài định kiếp hòa căn.
Chuyển luân định phẩm cao thăng,
Hư Vô Bát Quái trị thần quy nguyên.
Đã đủ đầy minh chứng từ khi mở đạo, chỉ có tin hay không tin mà thôi.
Khi tinh thần ta đã Trí giác, cùng nhìn nhau và hiệp một trong nguyên căn:
Thiên thời, địa lợi đôi điều sẵn,
Chỉ có hòa nhân mới hiệp quần.
Chơn khí của Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa là “Thập Nhị Thời quân” tại Hiệp Thiên Đài, được Chơn linh Đức Hộ pháp giao phận sự làm Chủ Trưởng Cơ quan Phước Thiện trấn giữ tại Cung Trí Giác. Ngày giờ nầy Đức Ngài Khai Pháp đã giáng linh chuyển kiếp thay xác, trở nên Chơn linh phục nguyên Thánh thể trong đoàn “Thập Nhị Bảo Quân” nơi Cửu Trùng Đài “Hội thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam”, đặng thay thế ngôn ngữ cho Đức Hộ pháp độ dẫn các nguyên nhân được Trí Giác, tỉnh mộng thi hành nhơn nghĩa, thiên hạ thái bình, mở Cực Lạc Thế giới, quyết định chương trình Long Hoa Đại Hội tại Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh Tây Ninh. Làm người tại mặt thế nầy duy chỉ có một chữ thương mà thôi, có thương mới có hòa, có hòa mới có hiệp, thương yêu vô tận là chìa khóa mở cửa Bát quái đài (Đền thánh) tại thế nầy, thực hiện đạo đời tương đắc tiến đến đại đồng, lấy chữ nghĩa làm đầu, mới mong tạo thời chuyển thế, lập đời thánh đức.
Trung Hòa Lộ
Các bậc nguyên nhân từ trong tinh thần Cung Trí giác, vận hành theo pháp luân thường chuyển Trung Hòa Lộ, tùng chủ quyền đạo được chơn truyền dục tấn tinh thần đến Bình Dương đạo đặng chuyển thế Nho Tông cho ra thiệt tướng xuất Thánh kỳ ba:
“Khai nhơn tâm tất bổn, ư đốc thân chi hiếu.
Thọ quốc mạch tất tiên, ư trí chúa chi trung.
Ứng mộng bảo sanh, thùy từ mẫn khổ,
Đại Nhơn, Đại Hiếu, Đại Thánh, Đại Từ,
Thần văn, Thánh võ, Hiếu đức, Trung Nhơn.”
Sau khi Đức Lý đã tỏa sáng, tức nói thật, làm thật, chỉ cho thấy sự chơn thật của mọi sự việc thuộc về chơn đạo đều phải xuất hiện tại mặt thế gian nầy, theo thời gian trong không gian tại cơ quan hữu tướng thế giới vật chất nầy. Thì thuộc về quyền hành của Hộ pháp cầm Bí pháp, ngóng theo chơn Lão Đức Lý tháp tùng đặng mở cửa Cực Lạc Thế giới cho các nguyên nhân tỉnh mộng quy hồi cựu vị.
“Niết biết giáo tông giao trở lại,
Bàn Kim bí quyết của thiên hoàng”
Các bậc nguyên nhân từ trong tinh thần Cung Trí giác, vận hành theo pháp luân thường chuyển Trung Hòa Lộ, tùng chủ quyền đạo được chơn truyền dục tấn tinh thần đến Bình Dương đạo đặng chuyển thế Nho Tông cho ra thiệt tướng xuất Thánh kỳ ba:
“Khai nhơn tâm tất bổn, ư đốc thân chi hiếu.
Thọ quốc mạch tất tiên, ư trí chúa chi trung.
Ứng mộng bảo sanh, thùy từ mẫn khổ,
Đại Nhơn, Đại Hiếu, Đại Thánh, Đại Từ,
Thần văn, Thánh võ, Hiếu đức, Trung Nhơn.”
Sau khi Đức Lý đã tỏa sáng, tức nói thật, làm thật, chỉ cho thấy sự chơn thật của mọi sự việc thuộc về chơn đạo đều phải xuất hiện tại mặt thế gian nầy, theo thời gian trong không gian tại cơ quan hữu tướng thế giới vật chất nầy. Thì thuộc về quyền hành của Hộ pháp cầm Bí pháp, ngóng theo chơn Lão Đức Lý tháp tùng đặng mở cửa Cực Lạc Thế giới cho các nguyên nhân tỉnh mộng quy hồi cựu vị.
“Niết biết giáo tông giao trở lại,
Bàn Kim bí quyết của thiên hoàng”
Lộ Bình Dương
Được biểu hiện đặc sắc có hai hình trạng Thể pháp và Bí pháp.
– Hiểu theo tinh thần Thể pháp thì Lộ: là con đường; Bình: nói lên sự an bình, tốt lành; Dương: ý muốn nói chính yếu, đáng lưu tâm và tôn trọng, nam ấy dương nữ ấy âm.
– Với Bí pháp: Lộ Bình Dương còn gọi là Bình Dương Đạo. Do vậy, Lộ: là giải pháp cứu thế; Bình: giúp cho thế giới được thái bình, hạnh phúc; Dương: chánh đạo, nhơn loại sinh tồn hưởng ánh dương quang chiếu rọi, thi hành nhơn nghĩa tiến đến đại đồng.
▪ Thể pháp lượt đi:
Xuất phát từ Đền Thánh năm Mậu Tí 1948 (3 con chuột hiệp lại) thành Thể pháp Thế Đạo từ Khai cửu đến lục cửu. Để chuẩn bị bước vào tầng Ái Thất Cửu, Đức Hộ pháp cho biết đã đến ngã ba đường “ai biết thì đi còn không biết đứng ở đó chờ Bần đạo”. Bằng con đường tu chơn, vào Phạm môn Bí pháp Đạo Tâm Thất Cửu Hạo Nhiên tùng lịnh Chuẩn Đề Bồ Tát chủ Cung Chưởng Pháp xây quyền Tạo Hóa. Còn không biết đứng ở đó chờ Đức Hộ pháp tại Thể pháp Thanh Hương Tòa Thánh Tây Ninh. Từ Đại Lộ Phạm Hộ Pháp đến cửa số 7 của Đền Thánh; Campuchia năm 1956, Thánh lịnh 65 Đức Hộ pháp ủy quyền cho Đức Hiến Pháp điều hành đạo sự tại Tòa Thánh Tây Ninh. Đặc biệt cửa số 7 là tầng cao nhất của thất tình là tầng Ái tức thương thuộc Bí pháp chơn truyền (1969-2013), dành cho chư Thánh lâm phàm “phát dương quang đại” hành chánh pháp hộ chơn truyền, giúp cho các nguyên nhân tỉnh mộng quy hồi cựu vị.
Bên ngoài cổng là Lộ Bình Dương, khoảng 500 m cắt ngan đường Trung Hòa Lộ, quẹo trái là Trường Cửu đến Trường Xuân lộ, nối liền Trường Lưu ra tận Ải địa đầu Thiên Thọ Lộ thuộc Bí pháp Thế đạo, cắt ngan quốc lộ 22 thành ngã ba. Quẹo trái về T/P HCM; bên phải lên Giang tân về Tòa Thánh Tây Ninh. Đó là con đường Thánh lâm phàm.
▪ Bí pháp lượt về:
Trước khi giúp cho các nguyên nhân tỉnh mộng tùng chủ quyền đạo được chơn truyền phản hồi nguyên bổn dự Hội Long Hoa, Hạo Nhiên Tăng phải thi hành Nhơn Nghĩa dựng bảng Phong Thần tái diễn là Phong Thánh Kỳ ba trước Đền Thánh Tây Ninh, tức mở cửa Bạch Ngọc Kinh tại thế đêm mùng 7- 4 năm Nhâm Thìn (2012). Cho nên phải chuyển Chơn pháp thành Chơn đạo, mới đủ quyền năng chuyển pháp từ trong ra ngoài, trở lại cửa Ải địa đầu Thiên Thọ Lộ (2013) là con đường Thiêng Liêng Hằng Sống tại thế: dục tấn tinh thần qua Trường Lưu, rồi Trường Xuân, Trường Cửu, Lộ Trung Hòa, cuối cùng là Bình Dương Lộ. Chư Thánh tùng pháp của Bát quái đài là tầng Ái, cửa số 7 trong nội thân của Đức Hộ Pháp, phản hồi nguyên bổn dự Hội Long Hoa tại Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh Tây Ninh.
Đến cửa số 7, từ ngoài chuyển vào trong nội ô trên Đại Lộ Phạm Hộ Pháp. Từ cửa số 7 hướng về Đền Thánh, bên phải là Bửu Tháp hữu hình của Đức Hiến Pháp Quan Âm chủ cung Phi Tưởng Diệu Thiên (cửa 8) là Ngài Trương Hữu Đức (Bí pháp HTĐ năm 1956-1968). Dục tấn tinh thần khoảng 200m về bên trái là Hộ Pháp Đường cầm quyền Chưởng Pháp tức chủ về Pháp, nơi của Đức Hộ pháp lúc sanh tiền cư ngụ (cửa 9) được biểu hiện cung Tạo Hóa Huyền Thiên (1926-1956). Hướng về Tòa Thánh 100m bên phải là Giảng Đường, Phong Thần Trung Hoa gọi là Ải Mạnh Tân nơi mà Châu Võ Vương triệu tập 800 trấn chư hầu chuẩn bị hài tội Trụ Vương (ải số 10). Đối diện Giảng Đường là Giáo Tông Đường bên tay trái, ngôi vị thầy đã dành sẵn nhưng chưa có người ngồi “Chưởng pháp cũng là Giáo Tông, còn trọng hệ hơn vì người thay mặt cho Hộ Pháp nơi Cửu Trùng Đài” (ải 11). Còn 200m nữa thẳng đến Đền Thánh Bạch Ngọc Kinh tại thế (ải cuối cùng 12), thuộc trung cung hành thổ nằm giữa đường Đại Lộ Phạm Hộ pháp.
“Trên Bạch Ngọc Chí Tôn cao ngự,
Giữa Tây Phương nắm giữ thiên điều.
Dưới Ngọc Hư kể bao nhiêu,
Thiêng liêng các đấng lập triều trị dân”.
Bằng “Pháp chánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam” là giải pháp cứu thế hòa bình thế giới trên mặt trận trí thức tinh thần đạo đức nhơn nghĩa, làm cho “chủ quyền Chơn đạo một mình ta” phải ra thiệt tướng “Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam” tại Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh Tây Ninh. Khi mở bến giải thoát con đường TLHS tại Trí Huệ Cung năm 1954, Đức Hộ pháp cả kêu 92 ức nguyên nhân tỉnh mộng thi hành tam thiện đặng quy hồi cựu vị. Đức Hộ pháp đã khẳng định: “nếu đạo Cao Đài không có giải pháp cứu thế, thì chỉ là một lý thuyết ảo mộng mà thôi”. Hể ảo mộng, thì đạo Cao Đài thành ra giả tướng hay sao? “Ngoài bác ái và công bằng ra, tất cả chỉ là phương pháp lấy giả tạo chơn mà thôi.” Bí pháp của Lộ Bình Dương còn được giải mã như vầy: Lộ là pháp chánh; Bình Dương là thương yêu và công bằng. Duy chỉ có Đức Hộ pháp giáng trần cầm Bí pháp mở Cực Lạc thế giới, độ sanh toàn thiên hạ.
Biểu đồ lượt trở về của các đấng nguyên nhân.
Trên con đường Thiên Đạo Bạch Ngọc Kinh thiêng liêng hữu hình ải 12; bắt đầu đi từ Hỗn Ngươn Khí: ải số 11 (2008); đến Hư Vô Chi Khí: ải 10 (2009); đến Huyền Ảnh Khí THHT: ải số 9 (2010); biến xuất Nguyên Tử Khí PTDT: ải 8 (2011); tạo nhơn hình tại cửa ải số 7 trung cung hành Thổ: Hạo Nhiên Pháp Thiên ải (2012). Nơi tương liên hiệp một cùng Đức Chí Tôn, nắm quyền trị thế chính quyền năng Đức Chí Tôn định, thực hiện đạo đời tương đắc, vạn linh hiệp chí linh. Hạo Nhiên Tăng tùng chủ quyền đạo được chơn truyền từ Thiên Đạo Xuống thế hiệp hữu hình, chuyển bí pháp Thế Đạo ra thiệt tướng con đường thánh Chơn đạo Bạch Ngọc Kinh tại thế:
Cửa ải thứ 6 (2013); đến ải số 5 (2014); tiếp ải 4 (2015); rồi cửa ải 3 (2016); đến ải số 2 (2017); tiếp ải cuối cùng số 1 (2018); quyết định chương trình Long Hoa Đại Hội ải địa đầu Khai hội (2019) ; Bạch Ngọc Kinh hữu hình tại Đền Thánh Tây Ninh hườn hư, không tức thị sắc 12 (2020). “Sớm hay muộn, còn tùy thuộc vào đại gia đình thiêng liêng của con cái Đức Chí Tôn định quyết.”
Chư Thánh quy hồi cựu vị
Trên con đường Thiêng Liêng Hằng Sống tại thế
Sấm Trạng Trình
“Long vĩ xà đầu khởi chiến chinh,
Can qua xứ xứ khởi đao binh.
Mã đề dương cước anh hùng tận,
Thân Dậu niên lai kiến thái bình.”
TÍN ĐỒ HẠO NHIÊN
Bảy triệu thư hùng dạ tiết Trinh,
Trấn ải môn quan thủ hộ mình.
Trung cung sáu triệu trang nữ kiệt,
Nhị tướng Hồ thiên dụng phép linh.
Bốn triệu ba trăm cấm vệ binh,
Chí khí tàng long Ánh hiện hình.
Anh hào hai triệu phòng cơ mật,
Ngũ bá xà điêu Ráo thất tinh.
Tín Biết hai đường quyết tử sinh,
Đồ quái càn khôn rõ thái bình.
Hạo Công một triệu Quang yếm trá,
Nhiên chuyển trời tây xuất thánh minh.
Xuất thánh minh quân Địa Tạng Vương,
Hiện giáng xử ma giữa thí trường.
Kỳ thi nhơn nghĩa Chèo một gậy,
Ba triệu Thùy-Chi-Dung đắc thương.
Khai quốc sơn Hà chủ tứ phương,
Hội hiệp trí mưu phải tỏ tường.
Long vân hai triệu Linh ra mặt,
Hoa chúa thiên triều tỏa ngát hương.
Được biểu hiện đặc sắc có hai hình trạng Thể pháp và Bí pháp.
– Hiểu theo tinh thần Thể pháp thì Lộ: là con đường; Bình: nói lên sự an bình, tốt lành; Dương: ý muốn nói chính yếu, đáng lưu tâm và tôn trọng, nam ấy dương nữ ấy âm.
– Với Bí pháp: Lộ Bình Dương còn gọi là Bình Dương Đạo. Do vậy, Lộ: là giải pháp cứu thế; Bình: giúp cho thế giới được thái bình, hạnh phúc; Dương: chánh đạo, nhơn loại sinh tồn hưởng ánh dương quang chiếu rọi, thi hành nhơn nghĩa tiến đến đại đồng.
▪ Thể pháp lượt đi:
Xuất phát từ Đền Thánh năm Mậu Tí 1948 (3 con chuột hiệp lại) thành Thể pháp Thế Đạo từ Khai cửu đến lục cửu. Để chuẩn bị bước vào tầng Ái Thất Cửu, Đức Hộ pháp cho biết đã đến ngã ba đường “ai biết thì đi còn không biết đứng ở đó chờ Bần đạo”. Bằng con đường tu chơn, vào Phạm môn Bí pháp Đạo Tâm Thất Cửu Hạo Nhiên tùng lịnh Chuẩn Đề Bồ Tát chủ Cung Chưởng Pháp xây quyền Tạo Hóa. Còn không biết đứng ở đó chờ Đức Hộ pháp tại Thể pháp Thanh Hương Tòa Thánh Tây Ninh. Từ Đại Lộ Phạm Hộ Pháp đến cửa số 7 của Đền Thánh; Campuchia năm 1956, Thánh lịnh 65 Đức Hộ pháp ủy quyền cho Đức Hiến Pháp điều hành đạo sự tại Tòa Thánh Tây Ninh. Đặc biệt cửa số 7 là tầng cao nhất của thất tình là tầng Ái tức thương thuộc Bí pháp chơn truyền (1969-2013), dành cho chư Thánh lâm phàm “phát dương quang đại” hành chánh pháp hộ chơn truyền, giúp cho các nguyên nhân tỉnh mộng quy hồi cựu vị.
Bên ngoài cổng là Lộ Bình Dương, khoảng 500 m cắt ngan đường Trung Hòa Lộ, quẹo trái là Trường Cửu đến Trường Xuân lộ, nối liền Trường Lưu ra tận Ải địa đầu Thiên Thọ Lộ thuộc Bí pháp Thế đạo, cắt ngan quốc lộ 22 thành ngã ba. Quẹo trái về T/P HCM; bên phải lên Giang tân về Tòa Thánh Tây Ninh. Đó là con đường Thánh lâm phàm.
▪ Bí pháp lượt về:
Trước khi giúp cho các nguyên nhân tỉnh mộng tùng chủ quyền đạo được chơn truyền phản hồi nguyên bổn dự Hội Long Hoa, Hạo Nhiên Tăng phải thi hành Nhơn Nghĩa dựng bảng Phong Thần tái diễn là Phong Thánh Kỳ ba trước Đền Thánh Tây Ninh, tức mở cửa Bạch Ngọc Kinh tại thế đêm mùng 7- 4 năm Nhâm Thìn (2012). Cho nên phải chuyển Chơn pháp thành Chơn đạo, mới đủ quyền năng chuyển pháp từ trong ra ngoài, trở lại cửa Ải địa đầu Thiên Thọ Lộ (2013) là con đường Thiêng Liêng Hằng Sống tại thế: dục tấn tinh thần qua Trường Lưu, rồi Trường Xuân, Trường Cửu, Lộ Trung Hòa, cuối cùng là Bình Dương Lộ. Chư Thánh tùng pháp của Bát quái đài là tầng Ái, cửa số 7 trong nội thân của Đức Hộ Pháp, phản hồi nguyên bổn dự Hội Long Hoa tại Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh Tây Ninh.
Đến cửa số 7, từ ngoài chuyển vào trong nội ô trên Đại Lộ Phạm Hộ Pháp. Từ cửa số 7 hướng về Đền Thánh, bên phải là Bửu Tháp hữu hình của Đức Hiến Pháp Quan Âm chủ cung Phi Tưởng Diệu Thiên (cửa 8) là Ngài Trương Hữu Đức (Bí pháp HTĐ năm 1956-1968). Dục tấn tinh thần khoảng 200m về bên trái là Hộ Pháp Đường cầm quyền Chưởng Pháp tức chủ về Pháp, nơi của Đức Hộ pháp lúc sanh tiền cư ngụ (cửa 9) được biểu hiện cung Tạo Hóa Huyền Thiên (1926-1956). Hướng về Tòa Thánh 100m bên phải là Giảng Đường, Phong Thần Trung Hoa gọi là Ải Mạnh Tân nơi mà Châu Võ Vương triệu tập 800 trấn chư hầu chuẩn bị hài tội Trụ Vương (ải số 10). Đối diện Giảng Đường là Giáo Tông Đường bên tay trái, ngôi vị thầy đã dành sẵn nhưng chưa có người ngồi “Chưởng pháp cũng là Giáo Tông, còn trọng hệ hơn vì người thay mặt cho Hộ Pháp nơi Cửu Trùng Đài” (ải 11). Còn 200m nữa thẳng đến Đền Thánh Bạch Ngọc Kinh tại thế (ải cuối cùng 12), thuộc trung cung hành thổ nằm giữa đường Đại Lộ Phạm Hộ pháp.
“Trên Bạch Ngọc Chí Tôn cao ngự,
Giữa Tây Phương nắm giữ thiên điều.
Dưới Ngọc Hư kể bao nhiêu,
Thiêng liêng các đấng lập triều trị dân”.
Bằng “Pháp chánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam” là giải pháp cứu thế hòa bình thế giới trên mặt trận trí thức tinh thần đạo đức nhơn nghĩa, làm cho “chủ quyền Chơn đạo một mình ta” phải ra thiệt tướng “Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam” tại Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh Tây Ninh. Khi mở bến giải thoát con đường TLHS tại Trí Huệ Cung năm 1954, Đức Hộ pháp cả kêu 92 ức nguyên nhân tỉnh mộng thi hành tam thiện đặng quy hồi cựu vị. Đức Hộ pháp đã khẳng định: “nếu đạo Cao Đài không có giải pháp cứu thế, thì chỉ là một lý thuyết ảo mộng mà thôi”. Hể ảo mộng, thì đạo Cao Đài thành ra giả tướng hay sao? “Ngoài bác ái và công bằng ra, tất cả chỉ là phương pháp lấy giả tạo chơn mà thôi.” Bí pháp của Lộ Bình Dương còn được giải mã như vầy: Lộ là pháp chánh; Bình Dương là thương yêu và công bằng. Duy chỉ có Đức Hộ pháp giáng trần cầm Bí pháp mở Cực Lạc thế giới, độ sanh toàn thiên hạ.
Biểu đồ lượt trở về của các đấng nguyên nhân.
Trên con đường Thiên Đạo Bạch Ngọc Kinh thiêng liêng hữu hình ải 12; bắt đầu đi từ Hỗn Ngươn Khí: ải số 11 (2008); đến Hư Vô Chi Khí: ải 10 (2009); đến Huyền Ảnh Khí THHT: ải số 9 (2010); biến xuất Nguyên Tử Khí PTDT: ải 8 (2011); tạo nhơn hình tại cửa ải số 7 trung cung hành Thổ: Hạo Nhiên Pháp Thiên ải (2012). Nơi tương liên hiệp một cùng Đức Chí Tôn, nắm quyền trị thế chính quyền năng Đức Chí Tôn định, thực hiện đạo đời tương đắc, vạn linh hiệp chí linh. Hạo Nhiên Tăng tùng chủ quyền đạo được chơn truyền từ Thiên Đạo Xuống thế hiệp hữu hình, chuyển bí pháp Thế Đạo ra thiệt tướng con đường thánh Chơn đạo Bạch Ngọc Kinh tại thế:
Cửa ải thứ 6 (2013); đến ải số 5 (2014); tiếp ải 4 (2015); rồi cửa ải 3 (2016); đến ải số 2 (2017); tiếp ải cuối cùng số 1 (2018); quyết định chương trình Long Hoa Đại Hội ải địa đầu Khai hội (2019) ; Bạch Ngọc Kinh hữu hình tại Đền Thánh Tây Ninh hườn hư, không tức thị sắc 12 (2020). “Sớm hay muộn, còn tùy thuộc vào đại gia đình thiêng liêng của con cái Đức Chí Tôn định quyết.”
Chư Thánh quy hồi cựu vị
Trên con đường Thiêng Liêng Hằng Sống tại thế
Sấm Trạng Trình
“Long vĩ xà đầu khởi chiến chinh,
Can qua xứ xứ khởi đao binh.
Mã đề dương cước anh hùng tận,
Thân Dậu niên lai kiến thái bình.”
TÍN ĐỒ HẠO NHIÊN
Bảy triệu thư hùng dạ tiết Trinh,
Trấn ải môn quan thủ hộ mình.
Trung cung sáu triệu trang nữ kiệt,
Nhị tướng Hồ thiên dụng phép linh.
Bốn triệu ba trăm cấm vệ binh,
Chí khí tàng long Ánh hiện hình.
Anh hào hai triệu phòng cơ mật,
Ngũ bá xà điêu Ráo thất tinh.
Tín Biết hai đường quyết tử sinh,
Đồ quái càn khôn rõ thái bình.
Hạo Công một triệu Quang yếm trá,
Nhiên chuyển trời tây xuất thánh minh.
Xuất thánh minh quân Địa Tạng Vương,
Hiện giáng xử ma giữa thí trường.
Kỳ thi nhơn nghĩa Chèo một gậy,
Ba triệu Thùy-Chi-Dung đắc thương.
Khai quốc sơn Hà chủ tứ phương,
Hội hiệp trí mưu phải tỏ tường.
Long vân hai triệu Linh ra mặt,
Hoa chúa thiên triều tỏa ngát hương.
Tây Ninh, ngày 01-11-2013
Đồ Phi
Đồ Phi
Phụ lục:
ĐƯA GIỚI LÃNH ĐẠO TÔN GIÁO VÀO TIẾN TRÌNH HÒA BÌNH
“Ngày nay, 83% dân số trên thế giới đều có theo một tôn giáo hay một ý thức hệ tư tưởng nào đó. Mỗi một quốc gia đều có nhiều giáo phái hoặc nhiều hệ tư tưởng khác nhau. Chỉ riêng ở Bắc Mỹ đã có đến 1.200 giáo hội Cơ Đốc. Tôn giáo có một tầm ảnh hưởng mạnh mẽ và hết sức đa dạng. Các nhà tôn giáo có thể gây ảnh hưởng đến các môn đồ của họ, hưởng ứng cho tính đa dạng này.
Ngày nay các tôn giáo khác nhau đã trở thành nguyên nhân gây xung đột ở nhiều nơi trên thế giới, bất chấp công sức làm các vị lãnh đạo tôn giáo kêu gọi các tín đồ của họ phải có cách nhìn độ lượng và hợp tác với nhau.
- Nếu nền hòa bình đạt được trong kỷ nguyên mới này, cộng đồng nhơn loại chắc hẳn phải thừa nhận tiềm năng của tôn giáo và phải công nhận rằng nó có phạm vi ảnh hưởng nhằm hủy diệt những hình ảnh xấu xa của tính bất nhân, đó là chiến tranh, mà cội nguồn của chiến tranh là sự đói nghèo, khốn khổ. Đã đến lúc các cấp lãnh đạo tinh thần thế giới phải cùng nhau chen vai sát cánh cùng Liên Hiệp Quốc.
Trong nỗ lực nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của nhân loại.
– “Hội nghị hòa bình thế giới” sẽ trở thành một việc làm mang tính lịch sử. Nó sẽ trở thành khởi điểm cho một cuộc hội hợp của các nhà lãnh đạo tôn giáo đầy uy tín trên khắp toàn cầu sẽ gặp nhau ở Liên Hiệp Quốc, nhằm đề ra một nhiệm vụ của thời đại mới giữa các cộng đồng tôn giáo khác nhau và giữa các cấp lãnh đạo và các giới lãnh đạo tinh thần. Các vị lãnh đạo tôn giáo sẽ hướng về nhân dân thế giới và làm sao để cho loài người với nhiều tín ngưỡng khác nhau có thể cùng chung sống hòa bình.
Ngày nay có khá nhiều tấm gương điển hình của các cộng đồng tôn giáo hợp nhau để giải quyết sự xung đột và xây dựng lại xã hội. Ví dụ như các lãnh đạo tôn giáo ở SIERRA LEESONE đã cùng hợp tác để giải quyết cuộc nội chiến kéo dài gần một thập niên. Tin rằng còn nhiều gương mẫu thiết thực khác hơn nữa và phải trấn tỉnh trước nạn kỳ thị tôn giáo trong hoàn cảnh mâu thuẫn hiện tại. Các nhà lãnh đạo tôn giáo giờ đây đã lên tiếng để phản ảnh rằng chúng ta phải tích cực tham gia một cách có hệ thống nhiều hơn nữa nhằm theo đuổi mục đích chung của sự hòa hợp.
Qua những tình hình gần đây của một số tôn giáo, nhiều nỗ lực đã thực hiện nhằm liên kết sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo tinh thần. Nhưng để tạo hiệu quả hơn nữa, nhiều nhà lãnh đạo nhìn nhận rằng cần phải có một mối quan hệ chính thức với Liên Hiệp Quốc.
Bởi lẽ trên, các vị đứng đầu tôn giáo sẽ hội hợp tại Liên Hiệp Quốc từ ngày 28-8-2000 tới đây, chắc chắn sẽ nắm được một số tiến trình cụ thể để công bố chính thức những điều cam kết của mình để cùng làm việc chặc chẽ hơn như là một cộng đồng chung của các nhà lãnh đạo với cộng đồng ngoại giao của Liên Hiệp Quốc nhằm ngăn chặn nguy cơ chiến tranh.
Họ sẽ tham gia chính thức, sẽ chung sức làm việc để có những cam kết bày tỏ được sự hòa hợp bằng một bản “TUYÊN NGÔN HÒA BÌNH THẾ GIỚI.”
Hơn thế nữa, một “Hội đồng cố vấn Quốc tế” do các nhà tôn giáo và các nhà lãnh đạo tinh thần sẽ được hình thành để cùng làm việc với Liên Hiệp Quốc và ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc trong các nỗ lực và kiến tạo và bảo vệ hòa bình thế giới. Hội đồng này sẽ hoạt động trên tinh thần độc lập để giúp đỡ giải quyết những nhiệm vụ khó nhăn của Liên Hiệp Quốc là làm trung gian hòa giải những cuộc xung đột giữa các quốc gia, các dân tộc, các tôn giáo và các nhóm sắc tộc khác nhau.
Theo lời kêu gọi chung vì HÒA BÌNH, tình ĐOÀN KẾT của các nhà lãnh đạo tinh thần và tôn giáo thế giới sẽ tạo thêm sức mạnh cho triển vọng đầy hứa hẹn của sự hợp nhất khi tất cả chúng ta bước vào kỷ nguyên mới.”
KOFIA. ANNAN
Tổng thơ ký Liên Hiệp Quốc A
“Ngày nay, 83% dân số trên thế giới đều có theo một tôn giáo hay một ý thức hệ tư tưởng nào đó. Mỗi một quốc gia đều có nhiều giáo phái hoặc nhiều hệ tư tưởng khác nhau. Chỉ riêng ở Bắc Mỹ đã có đến 1.200 giáo hội Cơ Đốc. Tôn giáo có một tầm ảnh hưởng mạnh mẽ và hết sức đa dạng. Các nhà tôn giáo có thể gây ảnh hưởng đến các môn đồ của họ, hưởng ứng cho tính đa dạng này.
Ngày nay các tôn giáo khác nhau đã trở thành nguyên nhân gây xung đột ở nhiều nơi trên thế giới, bất chấp công sức làm các vị lãnh đạo tôn giáo kêu gọi các tín đồ của họ phải có cách nhìn độ lượng và hợp tác với nhau.
- Nếu nền hòa bình đạt được trong kỷ nguyên mới này, cộng đồng nhơn loại chắc hẳn phải thừa nhận tiềm năng của tôn giáo và phải công nhận rằng nó có phạm vi ảnh hưởng nhằm hủy diệt những hình ảnh xấu xa của tính bất nhân, đó là chiến tranh, mà cội nguồn của chiến tranh là sự đói nghèo, khốn khổ. Đã đến lúc các cấp lãnh đạo tinh thần thế giới phải cùng nhau chen vai sát cánh cùng Liên Hiệp Quốc.
Trong nỗ lực nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của nhân loại.
– “Hội nghị hòa bình thế giới” sẽ trở thành một việc làm mang tính lịch sử. Nó sẽ trở thành khởi điểm cho một cuộc hội hợp của các nhà lãnh đạo tôn giáo đầy uy tín trên khắp toàn cầu sẽ gặp nhau ở Liên Hiệp Quốc, nhằm đề ra một nhiệm vụ của thời đại mới giữa các cộng đồng tôn giáo khác nhau và giữa các cấp lãnh đạo và các giới lãnh đạo tinh thần. Các vị lãnh đạo tôn giáo sẽ hướng về nhân dân thế giới và làm sao để cho loài người với nhiều tín ngưỡng khác nhau có thể cùng chung sống hòa bình.
Ngày nay có khá nhiều tấm gương điển hình của các cộng đồng tôn giáo hợp nhau để giải quyết sự xung đột và xây dựng lại xã hội. Ví dụ như các lãnh đạo tôn giáo ở SIERRA LEESONE đã cùng hợp tác để giải quyết cuộc nội chiến kéo dài gần một thập niên. Tin rằng còn nhiều gương mẫu thiết thực khác hơn nữa và phải trấn tỉnh trước nạn kỳ thị tôn giáo trong hoàn cảnh mâu thuẫn hiện tại. Các nhà lãnh đạo tôn giáo giờ đây đã lên tiếng để phản ảnh rằng chúng ta phải tích cực tham gia một cách có hệ thống nhiều hơn nữa nhằm theo đuổi mục đích chung của sự hòa hợp.
Qua những tình hình gần đây của một số tôn giáo, nhiều nỗ lực đã thực hiện nhằm liên kết sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo tinh thần. Nhưng để tạo hiệu quả hơn nữa, nhiều nhà lãnh đạo nhìn nhận rằng cần phải có một mối quan hệ chính thức với Liên Hiệp Quốc.
Bởi lẽ trên, các vị đứng đầu tôn giáo sẽ hội hợp tại Liên Hiệp Quốc từ ngày 28-8-2000 tới đây, chắc chắn sẽ nắm được một số tiến trình cụ thể để công bố chính thức những điều cam kết của mình để cùng làm việc chặc chẽ hơn như là một cộng đồng chung của các nhà lãnh đạo với cộng đồng ngoại giao của Liên Hiệp Quốc nhằm ngăn chặn nguy cơ chiến tranh.
Họ sẽ tham gia chính thức, sẽ chung sức làm việc để có những cam kết bày tỏ được sự hòa hợp bằng một bản “TUYÊN NGÔN HÒA BÌNH THẾ GIỚI.”
Hơn thế nữa, một “Hội đồng cố vấn Quốc tế” do các nhà tôn giáo và các nhà lãnh đạo tinh thần sẽ được hình thành để cùng làm việc với Liên Hiệp Quốc và ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc trong các nỗ lực và kiến tạo và bảo vệ hòa bình thế giới. Hội đồng này sẽ hoạt động trên tinh thần độc lập để giúp đỡ giải quyết những nhiệm vụ khó nhăn của Liên Hiệp Quốc là làm trung gian hòa giải những cuộc xung đột giữa các quốc gia, các dân tộc, các tôn giáo và các nhóm sắc tộc khác nhau.
Theo lời kêu gọi chung vì HÒA BÌNH, tình ĐOÀN KẾT của các nhà lãnh đạo tinh thần và tôn giáo thế giới sẽ tạo thêm sức mạnh cho triển vọng đầy hứa hẹn của sự hợp nhất khi tất cả chúng ta bước vào kỷ nguyên mới.”
KOFIA. ANNAN
Tổng thơ ký Liên Hiệp Quốc A

RSS Feed
Facebook
Twitter
0 comments:
Đăng nhận xét