Tôi có hai ông bạn, là thông gia của nhau. Một ông nguyên là
sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa và ông là cựu bộ đội. Cả hai cùng cư ngụ gần thành phố
Frankfurt/M. Có chung đến nửa tiểu đội cháu, sắp lấy chồng, lấy vợ đến nơi rồi,
ấy vậy, hễ ngồi cùng bàn là hai ông chọc ngoáy, cãi cọ nhau. Kỳ nghỉ hè vừa rồi,
tôi đi Wien vòng sang Paris,
lúc về, tạt qua thăm cả hai ông. Trong bàn nhậu, tôi ngồi giữa, thế mà hai ông
vẫn tranh luận, xỉa xói khá căng thẳng. Ông nào cũng cho, các nhà thơ, nhà văn
khoác áo lính của (phe) mình là nhất. Dường như, thấy nguy cơ bát đĩa chuẩn bị
bay, hai bà vợ hết cười lườm rồi lại quát, nhưng hai ông cứ khoa tay, múa chân
đều đều. Có lẽ quen nhờn như vậy rồi, nên hai bà thở dài. Tôi phải ấn vai hai
ông xuống, đùa giảng hòa: Em có hai người lính, nhà thơ, dù ở hai chiến tuyến
khác nhau, nhưng có nhiều điều giống nhau đến kỳ lạ. Hai ông này, đại diện cho
hai bác, có lẽ, bất phân thắng bại về tài năng cũng như nhân cách, nếu đem ra
tỉ thí. Ngoài ra, dám tử vì thơ trong thời bèo cám này, có lẽ, chỉ còn sót lại
hai ông thi sỹ này.
Vâng! Nếu như được lựa chọn, những nhà thơ yêu thích, mặc áo
lính, trực tiếp cầm súng, ở cả hai chiến tuyến, trong cuộc chiến tàn khốc vừa
qua, chắc chắn tôi nghĩ đến người lính VNCH Luân Hoán(Lê Ngọc Châu) và anh bộ
đội Hoàng Cát.
Trong bài “ Hoàng Cát, Vết Chân Tròn Vẫn Cắm Sâu Vào Lòng
Cát“ trước đây, tôi đã viết về tình yêu thơ ca mãnh liệt, cũng như thân phận trước
và sau chiến tranh của nhà thơ Hoàng Cát. Mặc dù bị đánh tơi bời, cuộc sống cũng
như linh hồn đã bị đẩy xuống tận cùng, sau vụ Cây Táo Ông Lành, Hoàng Cát vẫn vịn
chặt vào những câu thơ mà sống. Với ông, thi ca là nguồn sống bất tận:
“Nếu quả thật có luân hồi đổi kiếp
Xin hãy cho ta trở lại kiếp thi nhân“ (Hoàng Cát)
Xin hãy cho ta trở lại kiếp thi nhân“ (Hoàng Cát)
Khi Hoàng Cát ở bên này, bộc lời ước nguyện ấy, thì
bên kia con sông Gianh, nhà thơ Luân Hoán tỏ lời tri ân:
“Cám ơn đất đá trổ thơ
Lòng ta hạt bụi bơ vơ bám hoài“
Lòng ta hạt bụi bơ vơ bám hoài“
Cũng như Hoàng Cát, Luân Hoán được sinh ra và lớn lên trên
dải đất miền Trung, nắng và gió. Nơi đây, là một trong những chiếc nôi sản sinh
ra những thi hào, những nhà văn tài năng của dân tộc. Nhưng hận thù nào và từ
đâu đến, làm họ không thể hòa thơ, thưởng nguyệt mà buộc phải nhả đạn vào nhau?
Để rồi trên chính chiến trường đất Quảng này, cả hai, Hoàng Cát, Luân Hoán phải
để lại một bàn chân trái vào cùng năm 1969.
Luân Hoán đến với thi ca từ rất sớm, năm 1964 vừa tròn 23
tuổi, ông đã bước vào làng văn với tập thơ Về Trời. Thơ Luân Hoán đi vào nhiều
góc cạnh của cuộc sống, chiến tranh, thân phận con người và tình yêu quê hương,
đặc biệt là tình yêu đôi lứa. Ông viết nhiều, lời thơ dân dã, mộc mạc, gần
gũi với những câu nói thường nhật. Do vậy, thơ của ông dễ đi vào lòng người, nhất
là những người lính, học sinh và nông dân, thợ thuyền. Tuy được nhiều người đọc,
người thích như vậy, nhưng thơ của ông có mặt hạn chế về chiều sâu, cũng như
hình ảnh tưởng tượng. Nên khi đọc thơ của Luân Hoán, ta thấy hiếm (ít) có những
bài thật hay, hoặc những câu, những đoạn bất chợt thăng hoa vụt sáng lên như
trong thơ Du Tử Lê hay Nguyên Sa. Cũng cần phải nói thêm, dù thơ của Du Tử Lê
có những bài rất hay, có câu đã gắn liền hoặc thay cả tên gọi của nhà thơ. Nhưng
thơ Du Tử Lê, lại kén người đọc.
Viết đến đây, hai ông bạn già ghé mắt đọc, rồi véo tai tôi,
hỏi lại, thế thì chú thích đọc ông nào nhất. Điều tất nhiên, tôi thích đọc cả
hai, bởi vì mỗi nhà thơ đều có nét hay, đặc trưng riêng. Âu đó cũng là điều
riêng biệt, góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà.
Sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, những ngày chạy loạn
đã đi hết tuổi thơ của Luân Hoán. Trưởng thành, ông lại phải cầm súng xông pha
nơi chiến trường, nên với ông chiến tranh chỉ là những tham vọng, ích kỷ của
con người:
“ một con gà trống đỏ
một con gà trống đen
cùng nhìn về phương đó
khát vọng và bản năng
cả hai cùng hăm hở
đá nhau không nói năng”( Chiến tranh)
một con gà trống đen
cùng nhìn về phương đó
khát vọng và bản năng
cả hai cùng hăm hở
đá nhau không nói năng”( Chiến tranh)
Dù có nhân danh bất cứ điều gì, chiến tranh cũng chỉ
để lại chết chóc, tàn phá quê hương, xóm làng và xé nát trái tim cũng như linh
hồn con người, nhất là những người lính cầm súng trực tiếp nơi chiến trường. Sự
tàn nhẫn này, không phải chỉ có mình người lính VNCH Luân Hoán viết và ghi lại,
mà đồng đội của ông, nhà thơ người lính Huỳnh Hữu Võ đã từng viết: Anh phải
ngủ thật nhiều ban ngày/để đêm từng đêm ngồi ôm súng gác/anh phải cười nơi đây
thật to/để khỏi nghe tiếng súng/anh phải văng tục nơi đây cho đã/vì thiếu bóng
đàn bà suốt tháng/anh phải thủ dâm. Còn hơn thế nữa, bên kia của chiến
tuyến, giữa mặt trận đỏ lửa, anh bộ đội Đỗ Hoàng phải cay đắng bật thành thơ “Dừng
lại vội vàng giây lát thôi/Thành quách ngày xưa đổ nát rồi/Sao cảnh trăm đời
như vẫn một/Đầu hèn lính mọi lại sắp rơi!“ Và sau này, trong lúc ám
ảnh của linh hồn, người lính chiến Bảo Ninh đã vạch trần sự tàn nhẫn, nỗi đau
đó, bằng chính tác phẩm “Nỗi Buồn Chiến Tranh“ của mình.
Lời thơ lộn xộn, khi ngắn lúc dài với nhịp lên xuống bất
chợt, nó là sự ám ảnh, thể hiện tâm trạng nhất quán cũng như hành động của thi
sỹ Luân Hoán và những người lính trận, trong giai đoạn này. Cái bi quan và chán
nản ấy, thể hiện đậm nét qua bài Trái Tim Hành Quân. Chúng ta đọc lại đoạn
trích dưới đây để thấy rõ sự thật trần trụi đó:
“…anh bây giờ
là tên lính mù
chỉ huy một trung đội điếc
với chiếc còi trên môi
và hàng trăm câu chửi tục
anh ném vào lính của anh
niềm âu lo thương mến
biết chúng đã nghe được gì
ôi một trung đội điếc
lựu đạn nổ chẳng bằng tiếng gà gáy
lựu đạn nổ chẳng bằng dạ dày cháy lời thèm khát
chúng tiến
chúng tiến đến mục tiêu
anh dũng
chẳng phải một người bỏ mạng
cả bọn anh rồi sẽ hy sinh
ôi mục tiêu
mày là cái gì hỡi ?
có phải là miếng ăn
có phải là lá cờ tự do nào treo đó ?
anh đã biết nó là gì
em hỡi em, làm sao anh nói
anh chỉ là tên lính mù
chỉ huy một trung đội điếc
dù còn đủ tâm hồn
anh cũng sẽ đốt nhà
cũng sẽ bắn trâu bò, bắn gà vịt
không hổ ngươi
như lính của anh
phải sống
phải ăn
phải tàn bạo nữa
đó là điều cần trong cuộc hành quân…”
chỉ huy một trung đội điếc
với chiếc còi trên môi
và hàng trăm câu chửi tục
anh ném vào lính của anh
niềm âu lo thương mến
biết chúng đã nghe được gì
ôi một trung đội điếc
lựu đạn nổ chẳng bằng tiếng gà gáy
lựu đạn nổ chẳng bằng dạ dày cháy lời thèm khát
chúng tiến
chúng tiến đến mục tiêu
anh dũng
chẳng phải một người bỏ mạng
cả bọn anh rồi sẽ hy sinh
ôi mục tiêu
mày là cái gì hỡi ?
có phải là miếng ăn
có phải là lá cờ tự do nào treo đó ?
anh đã biết nó là gì
em hỡi em, làm sao anh nói
anh chỉ là tên lính mù
chỉ huy một trung đội điếc
dù còn đủ tâm hồn
anh cũng sẽ đốt nhà
cũng sẽ bắn trâu bò, bắn gà vịt
không hổ ngươi
như lính của anh
phải sống
phải ăn
phải tàn bạo nữa
đó là điều cần trong cuộc hành quân…”
Dường như nhà thơ không dám, hay không thể gọi thành tên nỗi
đau của cha mình, trong ngày gặp lại, khi người lính trẻ Luân Hoán đã là phế
binh, từ mặt trận trở về. Nhà thơ cứ tưởng giấu nó vào trong thơ, sẽ giảm được
nỗi đau chăng? Nhưng ông đã lầm. Chính những câu thơ với từ ngữ ẩn dụ, tưởng là
nhẹ là êm ấy, chỉ cần một hình ảnh ba bàn chân khua thôi, nó đã nhói lên nỗi
đau, mất mát, không chỉ riêng Luân Hoán và người cha già, mà người đọc cũng
phải ngơ ngác, bàng hoàng theo:
“…Dìu nhau về tới hiên nhà
Nạng con ngơ ngác, gậy ba bàng hoàng
Không gian cùng với thời gian
Bỗng
dưng khựng dưới ba bàn chân khua...”
Có thể nói,
Luân Hoán có tài kể chuyện bằng thơ. Mỗi bài thơ là một câu chuyện của bản
thân, gia đình hay của bè bạn, mà ông đã chiêm nghiệm hoặc đi qua. Từ ngữ trong
thơ, đọc lên như có cảm giác, tác giả bốc chỗ này một chút, nhón chỗ kia một
tý, ghép lại, thế mà gợi lại một câu chuyện hay làm lay động lòng người. Cái
thùng nho nhỏ, đoạn tre cũng nho nhỏ, nằm trong câu chuyện nho nhỏ, Luân Hoán
nhè nhẹ kể lại một kỷ niệm khiêng nước, làm cho tôi bâng khuâng nhớ về ngày
tuổi thơ. Cái ngày, Hà Nội thời bao cấp, thời ngăn sông cấm chợ, không dốc đá
như nơi tản cư của Luân Hoán, nhưng thùng nước vẫn sánh đổ và vấp ngã luôn
luôn. Bài “Khiêng Nước”, là một trong những bài thơ tiêu biểu cho tài năng này
của Luân Hoán, tôi nghĩ, có nhiều người đồng cảm:
“một cái
thùng con con
một đọan tre nho nhỏ
chị thương chịu nặng hơn
lâu lâu hơi cau có
một đọan tre nho nhỏ
chị thương chịu nặng hơn
lâu lâu hơi cau có
em đi
trước run run
đồn nghiêng vì vai thấp
dốc đá vấp luôn luôn
thùng va vào sau gót
đồn nghiêng vì vai thấp
dốc đá vấp luôn luôn
thùng va vào sau gót
một đôi
lần em khóc
ngồi chùi vệt máu tươi
rắc lên chút đất bột
thế mà vui rất vui
ngồi chùi vệt máu tươi
rắc lên chút đất bột
thế mà vui rất vui
giếng
trong xanh nước mát
uống lưng một vành gàu
chị múc em đứng hát
nắng chiều vàng tàu cau
uống lưng một vành gàu
chị múc em đứng hát
nắng chiều vàng tàu cau
ngày qua
ngày qua vội
mới đó thế mà già
chị chồng con lận đận
em bỏ xứ bỏ nhà
mới đó thế mà già
chị chồng con lận đận
em bỏ xứ bỏ nhà
ở đây
trời đẹp lắm
sao chẳng hề thấy vui
chẳng phải vì em khổ
chợt nhớ nhà đó thôi
sao chẳng hề thấy vui
chẳng phải vì em khổ
chợt nhớ nhà đó thôi
ước chi
được nhỏ lại
như những ngày tản cư
cùng chị đi khiêng nước
bắt nòng nọc vọc chơi”
như những ngày tản cư
cùng chị đi khiêng nước
bắt nòng nọc vọc chơi”
Tuy không
được đọc thơ Luân Hoán một cách có hệ thống, nhưng tôi cũng tưởng tượng ra ba
giai đoạn, có lẽ bi đát nhất của cuộc đời ông. Vết thương vừa lành sẹo, Luân
Hoán chưa kịp đứng vững trên chiếc chân gỗ của mình, thì biến cố tháng 4-1975
ập đến, ông lại phải tập tễnh bước vào trại cải tạo (tù). Rồi cứ tưởng thiên
đường của cuộc sống sẽ là vòm trời Âu-Mỹ chăng? Chỉ có Luân Hoán hiểu
và những kẻ lưu vong như chúng tôi thấu hiểu. Hơn thế nữa, cái đau của
Luân Hoán là cái đau không thể sẻ chia, của người phế binh trong hoàn cảnh hoàn
toàn bất lực. Vâng! Đau đến nỗi nhà thơ lưu vong Thế Dũng phải cắn răng viết: “
Lừa thai cho tuyệt chủng/ Kiếp lưu vong u cuồng”. Chúng ta đọc lại câu
chuyện thơ đầy bi quan, mặc cảm, chán chường của nhà thơ Luân Hoán dưới đây, để
thấy được thơ và đời của ông trong những ngày đầu đặt chân trên xứ người nhé:
“xin vợ
dăm cents lẻ
dồn mua bia uống chơi
một mình ta một chiếu
xem ra vẫn thảnh thơi
dồn mua bia uống chơi
một mình ta một chiếu
xem ra vẫn thảnh thơi
bia chua
hay bia đắng
nốc cạn cái cuộc đời
tại sao em đập chén
trong hồn ta em ơi
nốc cạn cái cuộc đời
tại sao em đập chén
trong hồn ta em ơi
rảnh rỗi
sao không viết
ngơ ngác cõi quê người
tiến lên thì bất lực
ngó lại hết đường lui
ngơ ngác cõi quê người
tiến lên thì bất lực
ngó lại hết đường lui
cái cần
ta không đạt
cái đạt người không cần
lỡ tay đời thầy thợ
ước gì mọc lại chân
cái đạt người không cần
lỡ tay đời thầy thợ
ước gì mọc lại chân
thì
thôi, thôi cứ uống
không say thì gỉa say
hết bia còn nước lã
chơi cho đời biết tay” (Một Chiếu)
không say thì gỉa say
hết bia còn nước lã
chơi cho đời biết tay” (Một Chiếu)
Có một điều
đặc biệt, nếu từ ngữ trong thơ của Luân Hoán nói chung dân dã, mộc mạc bao
nhiêu, thì từ ngữ riêng trong thể lục bát của ông, trau chuốt giàu hình tượng
bấy nhiêu. Nếu để thơ lục bát bên cạnh những thể thơ khác của ông, đọc lên, ta
cứ ngỡ không phải do cùng một người viết ra.
Để diễn tả
tâm trạng nhớ nhung, với vết bụi của thời gian, trong cái trầm lặng, u hoài khi
ông về thăm ngôi trường cũ, Luân Hoán đã dùng hình tượng “Phủi sợi bụi già”.
Chỉ một cụm từ mới này của Luân Hoán, làm cả bài thơ hay một cách đến lạ lùng.
Thơ hay, nhất là thơ lục bát, muốn không bị nhạt và nhàm, dứt khoát phải có
hình tượng và từ mới. Như một lần tôi đã viết: Thơ hay dứt khoát phải có
từ mới, hoặc cụm từ mới.Từ hay cụm từ mới không có nghĩa người viết chế, nghĩ
ra, mà do cách sử dụng từ ngữ. Nhiều từ, cụm rất cũ, nhưng người viết đặt hoặc
ghép trong câu đúng văn cảnh nào đó, gây bất ngờ cho người đọc, nó trở thành
câu mới, nghĩa mới. Nhà thơ tài năng, ngoài kiến thức ra, dứt khoát phải là
người có trí tưởng tượng và sự liên tưởng phong phú.
Thật
vậy, ta hãy đọc lại đoạn thơ dưới đây, để thấy được tài năng như vậy của nhà
thơ Luân Hoán:
“nhón
chân phủi sợi bụi già
đóng
trên khung cửa mở ra hững hờ
tôi nhìn
trong nỗi bơ vơ
không
thấy mà gặp thầy cô bạn bè…”
Thơ tình,
nhất là tình yêu đôi lứa là đề tài được nhắc đến nhiều nhất trong thi ca nước
nhà. Nó cũng là cảm hứng dường như bất tận cho người nghệ sỹ. Do vậy, để tránh
được sự trùng lặp, nhàm chán, viết được một bài thơ tình hay rất khó, viết theo
thể lục bát lại càng khó hơn. Có lẽ, cảm được điều này, nên Luân Hoán luôn luôn
làm mới thơ của mình, kể cả hình thức dù là thơ lục bát. “Tình Xuân Lục Bát” là
một bài thơ như vậy, ông đưa cả lời thoại nhân vật và những chấm, ngắt xuống
hàng giữa câu, làm cho bài thơ có “khuân mặt” mới lạ. Dẫu là thế, nhưng hồn vía
cả bài thơ lại nằm ở câu thơ cuối cùng:
“em
vào,
nhớ khép cửa buồng
giữ hương xuân ấm chiếu giường quanh năm”
nhớ khép cửa buồng
giữ hương xuân ấm chiếu giường quanh năm”
Nếu không
có hình tượng ẩn dụ này, mở cả bài thơ, buộc người đọc phải suy ngẫm, thì nó
chỉ là câu chuyện kể bình thường mà thôi:
“tháng
chạp cải nở hoa vàng
rủ con bướm chở hương sang hiên người
lỡ lòng gởi sợi thơ tôi
khiến em lộ mặt, ngó trời, thở ra
trái tim có dịp la cà
qua thăm nhánh khế sau nhà người dưng
rồi vì, em biểu rằng :
- đừng !
nên chi ,
em với ta cùng của nhau
một lần,
lần nữa, đến đâu...
đâm ra ở suốt bên nhau đến giờ
xuân xưa rất đỗi ngây thơ
xuân này tiếp tục ngây thơ bình thường
em vào,
nhớ khép cửa buồng
giữ hương xuân ấm chiếu giường quanh năm”
rủ con bướm chở hương sang hiên người
lỡ lòng gởi sợi thơ tôi
khiến em lộ mặt, ngó trời, thở ra
trái tim có dịp la cà
qua thăm nhánh khế sau nhà người dưng
rồi vì, em biểu rằng :
- đừng !
nên chi ,
em với ta cùng của nhau
một lần,
lần nữa, đến đâu...
đâm ra ở suốt bên nhau đến giờ
xuân xưa rất đỗi ngây thơ
xuân này tiếp tục ngây thơ bình thường
em vào,
nhớ khép cửa buồng
giữ hương xuân ấm chiếu giường quanh năm”
Tôi không
tin, Luân Hoán là người không hoạt ngôn, như đã đọc ở đâu đó. Bởi vì,
những sáng tác của ông có yếu tố văn học dân gian. Ông đã đưa nhiều khẩu ngữ
vào thơ. Tuy vậy, thơ Luân Hoán, ta ít bắt gặp những từ ngữ địa phương, như một
số nhà thơ xứ Quảng khác. Luân Hoán viết nhiều, về mọi chủ đề
và trong mọi hoàn cảnh. Kể cả những lúc bi đát nhất của cuộc đời, ông vẫn diễu
đời diễu mình:
“Mời anh
qua Mỹ thị
Mời chị
lên Hoà cuờng
Xe tôi
vừa thay lốp
Ðảm
bảo đi đường trường …”
Thế Dũng
đưa đặt vòng tránh thai vào thơ, đọc đã thấy sởn cả người, thế mà Luân Hoán đưa
cả đi cầu, đại tiện vào trong thơ của mình, thì kinh hơn nữa. Nhưng quả thật,
đọc lên, ta cảm thấy thanh, thấy khoan khoái là đằng khác, chứ chẳng thấy tục
chút nào. Đúng như ai đó đã nói, ông Luân Hoán lúc nào cũng có thể “nhả” ra
được thơ:
“đột
kích lên Văn Bâng
rơi đúng vào giờ tý
trái, phải chân vấp chân
quân cờ người đã thí
rơi đúng vào giờ tý
trái, phải chân vấp chân
quân cờ người đã thí
từng
phút từng phút qua
địch quân không chường mặt
ta ngồi bên bụi hoa
đại tiện thật thong thả” (Đột Kích)
địch quân không chường mặt
ta ngồi bên bụi hoa
đại tiện thật thong thả” (Đột Kích)
Nhà văn Song Thao cho rằng: "Thơ Luân Hoán không thể là thơ không hay
được. Nó như một hòn đá: nhìn bên ngoài tưởng như thô sơ, mộc mạc nhưng thật ra
bên trong có chứa ngọc. Chất ngọc tinh tuyền vì nó được chắt lọc từ cuộc sống muôn
vẽ muôn sắc”.
Vâng! Đúng
như vậy. Nhưng tôi xin phép nhà văn Song Thao, được viết tiếp vào nhận định
trên của ông một tí ti thôi: “Tuy nhiên do viết nhiều, những chất ngọc tinh
tuyền ấy của Luân Hoán dù được qua trưng cất, nhưng đã để không ít vỉa sạn rớt
xuống trang sách”.
Thật ra, cả
đời viết văn làm thơ, người nghệ sỹ để lại cho đời vài, ba tác phẩm hay đã là
thành công và đáng quí lắm rồi. Nhà văn, nhà thơ dù có tài giỏi đến mấy, viết
hay đến mấy, có nhiều tác phẩm hay, chắc chắn phải có nhiều tác phẩm không hay.
Tài danh đến như Xuân Diệu, Huy Cận, không phải không có những tác phẩm dở. Nhà
thơ Luân Hoán viết nhiều, hơn thế nữa thơ ông dùng nhiều khẩu ngữ, do vậy có
những bài dở, âu cũng là điều bình thường. Đọc bài “ Chuyện Xưa” ông viết gần
đây, tôi ngỡ đây là những câu ứng khẩu vui vui, đọc lên trong lúc trà dư tửu
hậu, chứ đây chưa hẳn là một bài thơ:
“má con
thời con gái
cũng
xinh đẹp như con
chỉ có
điều còn dại
đã sớm
bị hớp hồn
ba nhớ
ba hồi đó
đâu có
gì là ngon
lại có
hơi ba trợn
cộng rất
nhiều ba lơn
rồi thì
ba và má
dắt nhau
bỏ trốn nhà
nhiều
người bạn che chở
năm bảy
bữa bỏ nhà
nếu
không có ông nội
quen
biết và khôn lanh
chắc ba
ngồi gỡ lịch
tội dụ
trẻ đầu xanh
cuộc
tình ba và má
thơ mộng
trong cam go
kết cuộc
thật có hậu
các con
đã biết rồi”
Sống ở
trong nước, hay ở nước ngoài, trên nửa thế kỷ qua, Luân Hoán vẫn miệt mài cõng
thơ trên đôi nạng gỗ của mình. Thơ ông luôn gắn liền với đời sống của mọi tầng
lớp lao động. Dù đã trải qua bao biến cố đau đớn, nhưng thơ Luân Hoán vẫn
đầy ắp tình người, tuyệt nhiên ta không thấy sự hằn thù nào ở trong đó. Mỗi bài
thơ của ông như một câu chuyện phảng phất thiền ca đến ru người và ru đời vậy.
(Tiện đây,
tôi đề nghị nhà thơ Luân Hoán, ghi lại rõ ràng, thời gian và địa điểm sáng tác,
ở dưới mỗi bài thơ, vì khá nhiều bài trên các báo, kể cả trang luanhoan.net, không có. Điều đó,
gây trở ngại cho những ai muốn nghiên cứu thơ cũng như con người Luân Hoán,
nhất là thế hệ con cháu chúng ta sau này).
Leipzig ngày 1-11- 2013
Đỗ Trường

RSS Feed
Facebook
Twitter
0 comments:
Đăng nhận xét