Ông Lý Thái Hùng nói về sự leo thang
xung đột
giữa Nhật Bản và Trung Quốc trên quần đảo Senkaku
Thanh Thảo thực hiện
Trong
lúc dư luận thế giới đang phẫn nộ về quyết định của nhà cầm quyền tỉnh Hải Nam,
Trung Quốc buộc tất cả những tàu đánh cá nước ngoài phải xin phép trước khi vào
đánh bắt thủy sản khu vực biển Đông hôm đầu tháng 1 năm 2014, thì hai tuần sau Asahi
Nhật Báo loan tải rằng Trung Quốc đang chuẩn bị thiết lập vùng nhận dạng phòng
không trên biển Đông. Phát ngôn nhân Bộ ngoại giao Trung Quốc sau đó đã lên tiếng
bác bỏ nguồn tin này và cáo buộc rằng phe cực hữu tại Nhật đã ngụy tạo bản tin này
để kích lên chiêu bài chống Trung Quốc lan rộng đến Đông Nam Á.
Hai sự
kiện nói trên diễn ra vào lúc một số cán bộ cao cấp trong giới truyền thông Nhật
lên tiếng phủ nhận vụ thảm sát Nam Kinh năm 1937 mà quân đội Thiên Hoàng Nhật
đã giết hại ít nhất 25 ngàn thường dân vô tội khi tiến vào Nam Kinh. Những diễn
biến này cho thấy là xung
đột giữa Nhật Bản và Trung Quốc về quần đảo Senkaku đã leo thang lên thành cuộc chiến chủ nghĩa dân tộc giữa hai nước, và đã làm cho dư luận quan tâm nghĩ rằng cuộc chiến Trung Nhật có thể xảy ra trong thời gian tới. Để tìm hiểu thêm vấn đề này Thanh Thảo xin mời quý thính giả theo dõi phần nhận định sau đây của ông Lý Thái Hùng, Tổng Bí Thư Đảng Việt Tân trong chương trình hôm nay.
đột giữa Nhật Bản và Trung Quốc về quần đảo Senkaku đã leo thang lên thành cuộc chiến chủ nghĩa dân tộc giữa hai nước, và đã làm cho dư luận quan tâm nghĩ rằng cuộc chiến Trung Nhật có thể xảy ra trong thời gian tới. Để tìm hiểu thêm vấn đề này Thanh Thảo xin mời quý thính giả theo dõi phần nhận định sau đây của ông Lý Thái Hùng, Tổng Bí Thư Đảng Việt Tân trong chương trình hôm nay.
Thanh Thảo: Mặc dù
Trung Quốc lên tiếng phủ nhận việc thành lập vùng nhận dạng phòng không trên biển
Đông nhưng phía chính quyền Hoa Kỳ qua Trợ lý ngoại trưởng Danny Russel lại tiếp
tục lên tiếng cảnh báo Trung Quốc về việc này và đòi hỏi Bắc Kinh phải điều chỉnh
lại tuyên bố chủ quyền trên biển Đông theo đúng luật pháp quốc tế. Theo ông thì
những phát biểu của ông Danny Russel mang ý nghĩa gì vào lúc này?
Lý
Thái Hùng: Vào cuối năm ngoái, tờ South China
Morning Post trích lời Đại sứ Trung Quốc tại Philippines là bà Mã Khắc Khanh
nói rằng Bắc Kinh có quyền quyết định thời gian và địa điểm thành lập một vùng
nhận dạng phòng không mới, sau khi Bắc Kinh tuyên bố thành lập vùng nhận dạng
phòng không trên biển Hoa Đông.
Có lẽ do lời tuyên bố của bà đại sứ Trung
Quốc tại Phi Luật Tân - nước đang kiện Trung Quốc về chủ trương đường luỡi bò
chín khúc - khiến cho dư luận nghĩ là Trung Quốc đang chuẩn bị việc thiết lập
vùng nhận dạng phòng không trên biển Đông. Tuy Trung Quốc chưa xúc tiến việc
này; nhưng cuối tháng 1 năm 2014, nhà cầm quyền tỉnh Hải Nam lại ra quyết định
bắt các tàu nước ngoài phải xin phép khi vào đánh bắt hải sản trên biển Đông
nên đa số dư luận đều nghĩ rằng sớm muộn gì Trung Quốc cũng sẽ thiết lập vùng
nhận dạng phòng không trên biển Đông.
Do đó, dư luận không tin vào sự lên tiếng
phủ nhận của ông Hồng Lỗi, phát ngôn nhân của Trung Quốc về việc này vì theo
kinh nghiệm quá khứ, Trung Quốc thường chỉ xác nhận sau khi họ đã hoàn tất một
việc gì đó, tức là đặt dư luận thế giới vào việc đã rồi. Nói cách khác là Trung
Quốc lên tiếng phủ nhận không có nghĩa là Trung Quốc hoàn toàn không tiến hành
việc xây dựng vùng nhận dạng phòng không, mà là vì nó chưa hoàn tất nên chưa
lên tiếng xác nhận mà thôi.
Chính vì biết rõ ý đồ của Bắc Kinh làm xong
mới nói nên Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ ông Danny Russel đã phát biểu chận đầu với
hai dụng ý:
Thứ nhất là ngăn chận bớt đà háo thắng của
Bắc Kinh sau khi tỉnh Hải Nam
bắt các tàu đánh cá nước ngoài phải xin phép. Chủ trương của tỉnh Hải Nam chính là bước
đầu mà Trung Quốc muốn thăm dò phản ứng của dư luận để tiếp tục nhấn tới việc
thành lập khu vực nhận dạng phòng không. Có lẽ do dư luận chung phản đối quá mạnh
về quyết định của tỉnh Hải Nam
nên Trung Quốc đành phải lên tiếng phủ nhận.
Thứ hai là cho thấy lập trường của Hoa Kỳ
không chấp nhận những đòi hỏi chủ quyền phi lý của Trung Quốc trên biển Đông và
buộc Trung Quốc phải thận trọng trong việc tuyên bố chủ quyền nằm trong khuôn
khổ công pháp quốc tế.
Nói tóm lại, phát biểu của Trợ lý ngoại trưởng
Hoa Kỳ ông Danny Russel muốn đưa ra tín hiệu là Hoa Kỳ muốn Trung Quốc phải ứng
xử theo khuôn khổ công ước của Luật biển, và bỏ các quyết định như phải xin
phép khi đánh bắt hải sản và lập vùng nhận dạng phòng không trên biển Đông.
Thanh Thảo: Dư luận
chung của thế giới đang lo rằng, lợi dụng vấn đề xung đột quần đảo Senkaku với
Trung Quốc, phe chủ chiến theo khuynh hướng chủ nghĩa dân tộc cực đoan ở Nhật Bản
đang có những động thái muốn thay đổi Hiến pháp để tăng cường sức mạnh quân đội
vốn bị cấm trong hiến pháp. Theo ông thì liệu Nhật Bản có ngả theo khuynh hướng
chuẩn bị chiến tranh và Trung Quốc có khả năng đối ứng hay không?
Lý
Thái Hùng: Thủ Tướng Abe đang cầm quyền tại Nhật
Bản hiện nay là một trong 9 vị thủ tướng xuất thân từ tỉnh Yamaguchi, miền Nam
Nhật Bản vốn là nơi sinh truởng của những nhân tài lãnh đạo và canh tân nước Nhật
trong thời Minh Trị Thiên Hoàng. Chính vì thế mà tư chất của Thủ tướng Abe và
những người liên hệ trong nội các lần này mang tinh thần dân tộc rất mạnh.
Sự kiện hai nhà lãnh đạo của tập đoàn truyền
thông NHK Nhật Bản tuyên bố vụ thảm sát Nam Kinh năm 1937 là ngụy tạo, hoàn
toàn mang ý nghĩa kích lên phong trào chống Trung Quốc để bài bác việc Trung Quốc
tranh giành quần đảo Senkaku với Nhật. Theo tôi nó không có khả năng đi xa để
trở thành một phong trào bài Trung Quốc tại Nhật hay trở thành một phong trào chủ
chiến như Trung Quốc báo động vì phần đông dân chúng Nhật hiện nay rất lo sợ
chiến tranh.
Tuy nhiên, vốn mang nặng tinh thần dân tộc
và dùng yếu tố bảo vệ quần đảo Senkaku bằng mọi giá, Thủ tướng Abe và những người
theo chủ nghĩa dân tộc đã tích cực khai thác sự hung hăng của Trung Quốc trên
vùng biển Hoa Đông và cả biển Đông không phải để chuẩn bị chiến tranh mà nhắm
vào hai mục tiêu:
Thứ nhất là tăng cường khả năng chiến đấu của
lực lượng tự vệ Nhật Bản bằng cách gia tăng ngân sách quốc phòng để tân trang
vũ khí, phương tiện mà không bị dư luận Nhật và thế giới chống đối.
Thứ hai là tạo thế liên kết với các quốc
gia trong khu vực để bao vây và ngăn chận sự lớn mạnh của Trung Quốc tại Á
Châu.
Trong hiện tại quân lực Trung Quốc chưa có
đủ khả năng để tấn công đè bẹp lực lượng tự vệ Nhật, nhưng về lâu dài, nếu
Trung Quốc tiếp tục phát triển và lớn mạnh như hiện nay sẽ là mối đe dọa cho Nhật
Bản.
Nói tóm lại, tuy có sự manh nha xuất hiện
trở lại chủ nghĩa dân tộc tại Nhật Bản qua sự phát biểu của một vài trí thức,
nhưng không nhằm vào xu thế chuẩn bị chiến tranh toàn diện với Trung Quốc vì thời
điểm chưa chín muồi và Trung Quốc chưa có khả năng để đối đầu với lực lượng
quân sự của Nhật.
Thanh Thảo: Nếu như
theo sự phân tích của ông thì việc Trung Quốc bắn tin thiết lập vùng nhận dạng
phòng không ở biển Đông chỉ là sự kiện tung hỏa mù trong dư luận để tránh né cuộc
chiến với Nhật Bản hay không?
Lý
Thái Hùng: Theo tôi nghĩ thì nhắm vào cả hai: vừa
tránh né cuộc chiến với Nhật, vừa đặt ASEAN ở vào thế đã rồi trong vấn đề bàn
thảo chủ quyền trên biển Đông.
Trước hết ta nói về lý do tránh né cuộc chiến
với Nhật Bản.
Nếu cuộc chiến tranh xảy ra giữa Trung Quốc
và Nhật Bản thì sẽ tập trung nhiều vào hai lực lượng hải quân và không quân, và
thường thì Trung Quốc ra tay trước. Mặc dù Trung Quốc đã dành một ngân sách quốc
phòng rất lớn trong 20 năm qua để tân trang lực lượng hải quân và không quân
nhưng so với Nhật Bản thì còn thua rất xa trên phương diện vũ khí và kỹ thuật
chiến đấu. Hơn thế nữa, Trung Quốc rất ngại sự can thiệp của các hạm đội Hoa Kỳ
trên vùng Thái Bình Dương để hỗ trợ Nhật Bản khi bị Bắc Kinh tấn công. Điều này
làm cho Trung Quốc phải dè chừng vì phải đối đầu không chỉ với lực lượng quân sự
Nhật mà cả Hoa Kỳ, chắc chắn sẽ làm cho lực lượng quân sự của Trung Quốc bị kiệt
quệ sớm.
Ngoài ra, một vấn đề then chốt khác là
Trung Quốc vẫn dựa vào một số mặt hàng công nghệ quan trọng, đặc biệt là các
linh kiện điện tử của Nhật Bản cho nhu cầu xuất khẩu. Nếu cuộc chiến xảy ra, Nhật
ngưng việc bán các mặt hàng nói trên, kinh tế Trung Quốc sẽ bị gặp khó khăn.
Năm 2010 là năm Trung Quốc vui mừng tuyên bố GDP vượt Nhật Bản. Sự trổi dậy này
của Trung Quốc không phải do tiềm lực của các công ty Trung Quốc mà đến từ những
công ty nước ngoài và liên doanh nước ngoài với Trung Quốc chiếm tới 25% toàn bộ
sản lượng công nghiệp và 99% hàng xuất khẩu máy tính Trung Quốc. Điều đáng quan
tâm ở đây là những công ty này lại dựa vào hàng nhập khẩu của Nhật Bản, cho
nên, loại bỏ hàng hóa Nhật Bản đồng nghĩa với loại bỏ các công ty đa quốc gia
này và lúc đó Trung Quốc sẽ lấy gì để sống trước khi nói đến chuyện tiếp tục cạnh
tranh kinh tế với Hoa Kỳ.
Kế đến ta nói về việc Bắc Kinh muốn đặt thế
đã rồi đối với khối ASEAN.
Hiện nay, Trung Quốc và khối ASEAN đang bàn
thảo về bộ quy tắc ứng xử biển Đông (COC) và năm 2014 phải thông qua để làm nền
tảng giải quyết các tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với các nước trong
vùng biển Đông như Philippines, Việt Nam, Mã Lai, Brunei v...v… Thực tâm Trung
Quốc không muốn thông qua COC mà chỉ muốn bàn thảo song phương với từng nước nên
vì thế mà họ tìm mọi cách gây áp lực để làm nản khối ASEAN.
Việc bắn tin sẽ lập vùng nhận dạng phòng
không tiếp theo sau lệnh bắt các tàu đánh cá nước ngoài phải xin phép trước khi
vào đánh bắt hải sản trên biển Đông là một loạt những ý đồ mà Bắc Kinh muốn đặt
ASEAN ở vào thế đã rồi dù COC có thông qua trong năm 2014. Hiện nay Trung Quốc
đang còn bận tâm đối phó những chỉ trích của Nhật Bản và Nam Hàn về việc lập
vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông nên chưa tính đến việc thành lập
vùng nhận dạng phòng không ở biển Đông. Nhưng sớm muộn gì Trung Quốc cũng sẽ làm
vì mục tiêu sau cùng của Bắc Kinh là buộc các quốc gia khi di chuyển trên vùng
biển Đông và Hoa Đông đều phải xin phép Trung Quốc.
Nói tóm lại, tuy cuộc chiến Trung Nhật chưa
có thể xảy ra trong tình hình hiện nay, nhưng nhìn vào các ý đồ của Trung Quốc
cho người ta thấy rằng Trung Quốc đang từng bước thực hiện ý đồ kiểm soát toàn
thể khu vực Á Châu Thái Bình Dương vào năm 2050 như họ đã vạch ra từ thập niên
60 của thế kỷ trước.
Thanh Thảo: Tháng 4 tới
đây, Tổng thống Obama sẽ có cuộc thăm viếng Á Châu mà trọng tâm chính là khu vực
ĐôngÁ . Theo ông thì chuyến đi của ông Obama kỳ này có những tác dụng ra sao về
tình hình an ninh chung của Á Châu nói riêng và mối quan hệ Trung Mỹ sau khi Bắc
Kinh cho thiết lập vùng nhận dạng phòng không trên vùng biển Hoa Đông?
Lý
Thái Hùng: Theo tin tức thì Tổng thống Obama sẽ
viếng thăm 4 quốc gia Á Châu gồm Nhật Bản, Nam Hàn, Malaysia và Philippines vào
cuối tháng 4 mà theo Tòa Bạch Ốc cho biết mục đích là gia tăng mối quan hệ ngoại
giao, kinh tế, an ninh ở khu vực Á Châu – Thái Bình Dương.
Sự kiện Tổng Thống Obama không viếng thăm
Trung Quốc trong chuyến công du này cho thấy là Hoa Kỳ đã không coi mối quan hệ
Trung Mỹ là quan trọng vào lúc này so với nhu cầu thắt chặt quan hệ với các đồng
minh của Mỹ tại Á Châu là Nhật, Nam Hàn, Phi Luật Tân và Mã Lai. Rõ ràng là các
động thái hung hăng của Trung Quốc trong thời gian qua có làm cho những đồng
minh của Hoa Kỳ lo ngại. Chuyến công du Á Châu của Tổng Thống Obama lúc này đã
nói lên hai ý nghĩa quan trọng.
Thứ nhất là Hoa Kỳ cho thấy quyết tâm sẵn
sàng đứng bên cạnh các đồng minh cật ruột gồm Nhật Bản, Nam Hàn, Mã Lai, Phi Luật
Tân để chống lại các áp lực từ Trung Quốc. Sự hiện diện của ông Obama cho các
quốc gia này tin tưởng là Hoa Kỳ không bỏ rơi họ nếu có xảy ra cuộc chiến tranh
do Trung Quốc gây hấn trước tiên.
Thứ hai là Hoa Kỳ gián tiếp đưa một thông
điệp cho Trung Quốc là phải chấm dứt các ý đồ bá quyền hay gây hấn với các quốc
gia khu vực Á Châu qua việc thiết lập vùng phòng không và ngăn cấm các quốc gia
đánh bắt thủy sản trên biển Đông.
Nói tóm lại, chuyến công du của Tổng thống
Obama là nhằm tái xác nhận sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với các đồng minh cật ruột
Á Châu nếu xảy ra xung đột với Trung Quốc.
Thanh Thảo: Trong bối cảnh
có những giao động mạnh mẽ về tình hình an ninh khu vực như vậy , CSVN lại cưỡng
bức người dân và dư luận không được nhắc nhở gì đến những biến cố đánh dấu những
cuộc chiến xâm lược của Trung Quốc đối với Việt Nam như vụ xâm chiếm Hoàng sa
tháng 1/1974; Chiến tranh biên giới tháng 2/1979 và Vụ xâm chiếm Trường sa
tháng 3/1988. Nguyên do gì khiến cho CSVN phải khiếp nhược với Bắc Kinh như thế
vào lúc này?
Lý
Thái Hùng: Từ năm 1990 sau Hội nghị Thành Đô, lãnh
đạo Cộng sản Việt Nam đã trở thành một con cờ của Bắc Kinh từ lâu nên họ phải
phục tùng các ý đồ của Bắc Kinh hơn là phục vụ nguyện vọng nhân dân Việt Nam.
Việc CSVN ngăn chận dân chúng tổ chức các buổi lễ tưởng niệm những người đã chết
vì chống lại Trung Quốc cho thấy họ không những không muốn làm cho Bắc Kinh khó
chịu mà còn biểu hiện sự trung thành theo “Tàu” một cách triệt để đổi lấy sự bảo
hộ của Trung Quốc.
Nói cách khác là CSVN đang nhìn thấy sự rệu
rã của chế độ ở bên trong và sự chống đối của người dân ngày một gia tăng. CSVN
nhìn thấy nguy cơ sụp đổ nên họ phải dựa vào Bắc Kinh để được bảo hộ từ kinh tế,
chính trị cho đến các mặt về an ninh chiến lược. Ngày nào chế độ này còn tồn tại,
dân tộc Việt Nam
còn phải tiếp tục sống trong sự khống chế của Trung Quốc. Muốn thoát ra khỏi sự
kiềm chế của Bắc Kinh, người Việt Nam trước tiên phải nỗ lực tranh đấu để chấm
dứt ách cai trị của đảng CSVN và sau đó, bằng sức mạnh phản kháng của dân tộc,
chúng ta mới giành lại những biển đảo đã mất và thoát ra khỏi vòng ảnh hưởng của
Đại Hán.
Thanh Thảo: Xin cảm ơn
ông Lý Thái Hùng đã tham dự cuộc hội luận hôm nay.

RSS Feed
Facebook
Twitter
0 comments:
Đăng nhận xét